Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly

Ông Lò Việt Hưng

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn N; Sinh ngày 07/8/1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết L (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Vũ Thị K, sinh năm 1954; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không;

Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 26/9/2023, Nguyễn Văn N bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành xong quyết định, chưa được xoá tiền sự.

Nhân thân: Ngày 22/8/2007, Nguyễn Văn N bị Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 11/9/2013, hiện đã được xóa án tích.

1

Ngày 16/5/2022, Nguyễn Văn N bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/6/2022 bị cáo được miễn tiền phạt bi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-MTXPVPH đã được xoá tiền sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/6/2024, tạm giam từ ngày 14/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

2. Họ và tên: Lò Văn C; Sinh ngày 01/3/1991 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản Phường, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T, sinh năm 1968 bà Lò Thị N1, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/6/2024, tạm giam từ ngày 14/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 08/6/2024, Nguyễn Văn N gặp Lò Văn C tại bản Đội 9, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn N đã rủ Lò Văn C đi tìm mua Heroine cùng nhau sử dụng. Sau đó, cả hai đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không rõ lai lịch đến đường vành đai thuộc địa phận bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T thì xuống xe rồi đi bộ vào trong bản Sắp Ngụa thì nhìn thấy một người đàn ông không rõ lai lịch, Lò Văn C bảo Nguyễn Văn N đưa tiền cho mình để mua Heroine. Nguyễn Văn N đưa cho Lò Văn C số tiền 200.000 đồng rồi đứng đợi ở ven đường. Lò Văn C cầm 200.000 đồng Nghĩa đưa ra gặp người đàn ông hỏi mua H nhưng người đàn ông đó không có. Lò Văn C đưa cho người đàn ông đó số tiền 220.000 đồng nhờ đi mua hộ Heroine, trong đó 200.000 đồng là tiền mua Heroine còn 20.000 đồng là tiền trả công mua Heroine hộ. Người đàn ông đồng ý rồi cầm tiền đi đâu C không biết. Một lúc sau, người đàn ông quay lại đưa cho Lò Văn C 03 gói Heroine (từng gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh). Mua được H, Lò Văn C cất giấu 01 gói vào trong bao thuốc lá Thăng Long, 02 gói Heroine còn lại Lò Văn C cầm trong lòng bàn tay phải đi ra chỗ Nguyễn Văn N đang đợi xoè tay phải ra cho N xem 02 gói Heroine (Lò Văn C chưa nói cho Nguyễn Văn N biết là mua được bao nhiêu gói Heroine). Mua được H, Lò Văn CNguyễn Văn N đi đến bụi cây ven đường thuộc địa phận bản S, xã P, huyện T để cùng nhau sử dụng Heroine. Lò Văn C đặt bao thuốc lá

2

Thăng L1 có chứa 01 gói Heroine xuống đất, đồng thời Lò Văn C đưa cho Nguyễn Văn N 02 gói Heroine mà C đang cầm trong lòng bàn tay. Nguyễn Văn N cởi mũ bảo hiểm đang đội trên đầu xuống để cạnh bao thuốc lá Thăng L1 và để 01 gói Heroine vào trong mũ bảo hiểm. Gói Heroine còn lại, N mở ra, cấu cho C một ít để C sử dụng bằng hình thức hít. N cũng cấu lấy một ít Heroine cho vào bơm kim tiêm pha cùng nước cất sử dụng bằng hình thức chích. Còn thừa một ít Heroine, Nguyễn Văn N để trên bao thuốc lá Thăng Long của Lò Văn C đang đặt ở dưới đất. Khi Nguyễn Văn NLò Văn C đang sử dụng Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã P, huyện T phát hiện, bắt quả tang vào hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn NLò Văn C tổng số 03 Heroine, trong đó thu trong mũ bảo hiểm 01 gói; thu bên trên bao thuốc lá Thăng Long 01 gói và thu bên trong bao thuốc lá Thăng Long 01 gói (đều được gói bằng các mảnh ni lon màu xanh), thu giữ của Nguyễn Văn N 01 bơm kim tiêm, 01 mũ bảo hiểm màu đen; thu giữ của Lò Văn C 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 bao thuốc lá Thăng Long.

Tại bản Kết luận giám định số 57/KLGĐ, ngày 08/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 726/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn N, Lò Văn C có tổng khối lượng 0,1 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,1 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại là 03 mảnh ni lon màu xanh; 01 bơm kim tiêm; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bản cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 09/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; xử

3

phạt bị cáo Lò Văn C 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; Buộc bị cáo Lò Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn N.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 mảnh ni lon màu xanh; 01 bơm kim tiêm; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ ngày 08/6/2024, tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn N đưa cho Lò Văn C số tiền 200.000 đồng để mua Heroine, mục đích cùng nhau sử dụng, nhận tiền từ Nguyễn Văn N, Lò Văn C đã mua trái phép từ một người đàn ông không rõ lai lịch 03 gói Heroine, với số tiền 220.000 đồng. Đến hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, tại bản Sam Sẩu, xã P, huyện T, Nguyễn Văn N, Lò Văn C bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành

4

vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ là 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,1 gam.

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, mục đích mua ma tuý về để sử dụng. Hành vi cố ý cùng tàng trữ 0,1 gam Heroine để sử dụng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Xét về vai trò đồng phạm, đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, do nghiện ma tuý các bị cáo cùng nhau góp tiền mua Heroine để sử dụng. Bị cáo Nguyễn Văn N là người khởi xướng, đưa tiền cho bị cáo Lò Văn C mua H, bị cáo Lò Văn C là người trực tiếp mua Heroine nên giữ vai trò là người thực hành tích cực. Cả hai bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng Heroine thu giữ là 0,1 gam.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C đều là những người nghiện ma tuý, chưa có vợ con. Bị cáo Lò Văn C chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Văn N có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 01 bản án đã được xoá án tích về tội “Cướp tài sản”. Các bị cáo đều được đi học nhưng đã bỏ học và không làm tròn trách nhiệm của mình với gia đình, xã hội, chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, làm ăn, lao động sản xuất mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy. Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục của địa phương các bị cáo biết rõ các hành vi liên quan đến ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có ma túy sử dụng cho nhu cầu không chính đáng của bản thân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có thân

5

nhân là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định và không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý; còn lại 03 mảnh ni lon màu xanh; 01 bơm kim tiêm; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn N thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên toà bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

6

[10] Những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lò Văn C khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Lò Văn C.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Lò Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 08/6/2024.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì bên trong đựng 03 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 01 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá; 01 mũ bảo hiểm màu đen (đã qua sử dụng).

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lò Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn cho bị cáo Nguyễn Văn N 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

7

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Than Uyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 140/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. - Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 08/6/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger