Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 140/2024/HSST

Ngày: 25-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Nghĩa

Bà Trần Thị Ánh Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 09-7-2024 đối với bị cáo:

TRẦN ĐỨC P, sinh ngày 14/6/2002 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T, sinh năm 1980 và bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1985; bị cáo có 02 em ruột sinh năm 2004 và năm 2012; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Đức P bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-3-2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

Ông Huỳnh Quảng P1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số C N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Rơ Mah H, sinh năm 2003; địa chỉ: Làng N, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Huỳnh Nguyễn Việt C, sinh năm 2000; địa chỉ: số C N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Rô T2, sinh năm 2004; địa chỉ: C N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1992; địa chỉ: C N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Đoàn Thị T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Anh Vũ Đức L, sinh năm 1999; địa chỉ: Số C N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau: Trần Đức P nguyên là cán bộ chiến sỹ thuộc Phòng C2 Công an tỉnh G. Vào ngày 12/6/2023, P được Phòng C2 (PK02) Công an tỉnh G, phân công làm Tiểu đội phó Đội bảo vệ mục tiêu Kho bạc nhà nước tỉnh Gia Lai, đóng tại số C đường N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, trong thời gian từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 06 tháng 01 năm 2024, P đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của cán bộ chiến sỹ trong đơn vị và của nhân viên bảo vệ Kho bạc nhà nước tỉnh G, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ 30 phút (không nhớ rõ ngày) của tháng 10 năm 2023, Trần Đức P đang nằm trong phòng ngủ thì nhìn thấy anh Nguyễn Đức N (sinh năm 1992) là tiểu đội trưởng bảo vệ mục tiêu Kho bạc, ngủ dậy đi ra ngoài vệ sinh cá nhân, để chìa khóa tủ trên bàn; P liền nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của anh N, nên P dậy lấy chìa khóa mở tủ cá nhân của anh N ra lấy trộm 01 thẻ vàng PNJ, loại vàng 24k, trọng lượng 0,5 chỉ và 01 tờ USD (đô la Mỹ) mệnh giá 100USD của anh N rồi cất giấu vào túi quần, sau đó P khóa cửa tủ lại, để chìa khóa lại chỗ cũ, rồi P lên giường nằm. Sau khi lấy trộm được tài sản của anh N, đến cuối tuần P đi về nhà ở huyện P thăm gia đình rồi đem bán thẻ vàng tại tiệm V ở thị trấn P được 2.400.000 đồng. Mấy ngày sau P về đơn vị và đến một tiệm vàng ở đường L, thành phố P (không nhớ tên tiệm) bán 100USD được 2.200.000 đồng, số tiền trên P tiêu xài cá nhân hết.

Qua định giá, xác định: “01 vàng miếng hiệu PNJ, loại vàng 24k, trọng lượng 0,5 chỉ (không thu hồi được), giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.485.000 đồng; 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 100USD (đô la Mỹ) không thu hồi được, giá trị bị biếm đoạt là 2.400.000 đồng”.

Lần thứ hai: Vào khoảng tháng 11 năm 2023 (không rõ ngày) lợi dụng lúc anh Rơ Mah H (sinh năm 2003 là chiến sỹ bảo vệ mục tiêu Kho bạc nhà nước tỉnh G) không có ở phòng, P đã lén lút chiếm đoạt 400.000 đồng của anh H, rồi cất giấu tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ ba: Vào khoảng tháng 11 năm 2023 (không rõ ngày) lợi dụng lúc anh Rô T2 (sinh năm 2004 là chiến sỹ bảo vệ mục tiêu Kho bạc nhà nước tỉnh G) không có ở phòng, Trần Đức P đã lén lút chiếm đoạt 200.000 đồng của anh T2, số tiền này P tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ tư: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06 tháng 01 năm 2024, lợi dụng lúc anh Huỳnh Quảng P1 (sinh năm 1972, là nhân viên bảo vệ Kho bạc) đi tắm, P đã lén lút vào phòng trực của anh P1, lục túi quần của anh P1 để trên giường lấy trộm 450.000 đồng, rồi đi về phòng trực của P. Số tiền này P cho anh Vũ Đức L (sinh năm 1999, là chiến sỹ bảo vệ, mục tiêu kho bạc) mượn 100.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tiền, anh P1 đã kiểm tra C1 phát hiện P là người đã vào phòng trực của mình lấy trộm tiền, nên anh P1 đến Đại đội bảo vệ mục tiêu, thuộc Phòng C2 (PK02) Công an tỉnh G làm đơn trình báo. Sau đó, Đại đội bảo vệ mục tiêu đã gọi P lên làm việc, thì P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại 450.000 đồng.

Quá trình điều tra, P còn khai nhận đã nhiều lần trộm cắp tiền của anh P1, cụ thể, như sau: Trong tháng 11 năm 2023, với thủ đoạn nêu trên P đã 04 lần lén lút vào phòng trực của anh P1 lục túi quần của anh P1 lấy trộm tiền của anh P1, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng; đến khoảng tháng 12 năm 2023, P đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tiền của anh P1 số tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Tổng số tiền Phương đã chiếm đoạt của anh Huỳnh Quảng P1 khoảng 6.000.000 đồng: Ngoài ra, P còn chiếm đoạt 01 lần tiền của anh Huỳnh Nguyễn Việt C (sinh năm 2000, trú tại Tổ A, phường T, thành phố P là con của anh Huỳnh Quảng P1) số tiền 350.000 đồng; toàn bộ số tiền trên P đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 24/01/2024, Giám đốc Công an tỉnh G đã ra Quyết định kỷ luật đối với Trần Đức P bằng hình thức Tước danh hiệu Công an nhân dân. Sau đó, hồ sơ vụ việc cùng tang vật chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, để giải quyết theo thẩm quyền.

Bị cáo Trần Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 151/CT-VKS ngày 24-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Đức P về tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Đức P và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Đức P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Đức P với mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Đối với số tiền 450.000đồng tiền Ngân hàng N1 là tang vật của vụ án do Trần Đức P giao nộp. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại. Do đó, cần trả lại cho bị cáo 450.000đồng tiền Ngân hàng N1.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Đức P phạm tội như sau:

Vào khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 06 tháng 01 năm 2024, tại phòng ngủ của Tiểu đội bảo vệ mục tiêu và phòng ngủ của nhân viên bảo vệ Kho bạc Nhà nước tỉnh G, số C đường N, phường T, thành phố P, Trần Đức P đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức N 01 vàng miếng trọng lượng 05 chỉ vàng 24k trị giá 3.485.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100 USD (Đô la Mỹ) trị giá 2.400.000 đồng; chiếm đoạt của anh Rô T2 200.000 đồng; chiếm đoạt của anh H 400.000 đồng; chiếm đoạt của anh C 350.000 đồng và chiếm đoạt của anh P1 6.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Trần Đức P chiếm đoạt là 12.835.000 đồng.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...

Quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Đức P là người đã trưởng thành, có nhận thức, là một chiến sỹ thuộc Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh G nhưng vì muốn có tiền tiêu xài bất chính, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt từ tháng 10 năm 2023 đến ngày 06 tháng 01 năm 2024 tại phòng ngủ của Tiểu đội bảo vệ mục tiêu và phòng ngủ của nhân viên bảo vệ Kho bạc Nhà nước tỉnh G có trị giá 12.835.000đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “tự nguyện bồi thường để khắc phục toàn bộ hậu quả”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, bị cáo H1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 50, 65 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, bên cạnh sự giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục bị cáo.

[4] Về dân sự: Trần Đức P đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho các bị hại, gồm: Nguyễn Đức N số tiền 7.000.000 đồng; Rô Thoa số tiền 200.000 đồng; Rơ Mah H 400.000 đồng và anh Huỳnh Quảng P1 số tiền 10.000.000 đồng, nên anh N, T2, H và anh P1 không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Riêng anh Huỳnh Nguyễn Việt C không yêu cầu bị cáo Trần Đức P phải bồi thường gì về dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Đức N và anh Rô T2 không có yêu cầu gì, những người bị hại còn lại đều vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 450.000đồng tiền Ngân hàng N1 là tang vật của vụ án do Trần Đức P giao nộp. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại. Do đó, cần trả lại cho bị cáo 450.000đồng tiền Ngân hàng N1 là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Đức P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với việc anh Huỳnh Quảng P1, khai đã 04 lần bị mất tiền tổng cộng 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua điều tra P chỉ thừa nhận đã nhiều lần lấy trộm tiền của anh P1 mỗi lần lấy từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, tổng số tiền mà P chiếm đoạt của anh P1 khoảng 6.000.000 đồng. Do chỉ duy nhất có lời khai của anh P1, ngoài ra không có chứng cứ nào khác khẳng định Trần Đức P đã chiếm đoạt của anh P1 số tiền 10.000.000 đồng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với việc Trần Đức P chiếm đoạt của các bị hại Rô Thoa, Rơ Mah H, Huỳnh Nguyễn Việt C và Huỳnh Quảng P1, các lần chiếm đoạt đều dưới 2.000.000 đồng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không đề nghị truy tố đối với P về phạm tội nhiều lần là đúng pháp luật.

Đối với Vũ Đức L được P cho mượn 100.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Quá trình điều tra xác định số tiền 100.000 đồng P cho L mượn thì L hoàn toàn không biết số tiền trên là do P phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý L về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Đức P.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Đức P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25-7-2024).

Giao bị cáo Trần Đức P cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Trần Đức P số tiền 450.000đồng tiền Ngân hàng N1. (Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-6-2024 giữa Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo: Trần Đức P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 140/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức P phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger