Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HS-ST

Ngày 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phụng;
  2. Bà Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn T, sinh ngày 08/9/1974, tại: Tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Đỗ Văn H và bà Phạm Thị T1; vợ: Nguyễn Thị Ánh D; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Từ tháng 9/1993 đến tháng 10/1995 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2024 cho đến nay.

2. Đỗ Thành C, sinh ngày 05/12/2003, tại: Tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị Ánh D; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2024 cho đến nay.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Đinh Thị Hồng T2 - Luật sư Công ty L, trụ sở: P520 tầng 5B Tòa nhà HL Tower, số F, ngõ H, D, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.

* Bị hại: Anh Vương Anh T3, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Người được bị hại ủy quyền: Bà Bùi Thị Thúy H1, sinh năm 1983. Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1973, trú tại: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

  1. Bà Đặng Thị C1, sinh năm 1971, trú tại: Số nhà B, ngõ I, đường L, tổ F, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  2. Anh Đào Thế A, sinh năm 1991, trú tại: Tổ 9, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
  3. Chị Đặng Thị Minh P, sinh năm 2006, trú tại: Tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt các bị cáo, Luật sư T2 và bà H1, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 04/02/2024, Đỗ Văn T điều khiển xe mô tô biển số 17B1- 151.23 chở cây đào đến khu vực cầu L, tổ I, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình để bán. T điều khiển xe đi đến vị trí anh Vương Anh T3, sinh năm 2005, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đang đứng bán cây sen đá trên mặt cầu. Tứ có nói với anh T3 “Các cháu cho chú đứng nhờ ở đây bán với” anh T3 nói “Chỗ này chật rồi chú không vào được đâu”. Lúc này T xuống xe mô tô trên tay phải cầm 01 chiếc kéo và có lời qua tiếng lại với T3. Sau đó mọi người can ngăn nên T điều khiển xe đến vị trí đầu cầu phía bên đường Trần Thánh T4, đứng cách T3 khoảng 20m. Tứ gọi điện thoại cho con trai là Đỗ Thành C trao đổi nội dung “bố bị thằng thanh niên cầm gạch đánh”. C nói “Bố đang ở đâu”, T nói “Ở cầu Công an 9 tầng”. Khoảng 10 phút sau C điều khiển xe mô tô đến, để xe ở đầu cầu L phía bên hiệu kính thuốc tại đường T. C đi bộ đến vị trí T đứng, C hỏi T Thằng nào đánh bố thì T chỉ về phía T3, nói với C Thằng kia kìa!" Sau đó T cầm 01 chiếc kéo ở tay phải đi đến chỗ anh T3 còn C đi bộ theo sau. Khi T đến cách khoảng 03m thì anh T3 thấy T cầm kéo nên đã đứng dậy, tay phải cầm thanh kim loại chiều dài khoảng 50cm để ở thành cầu cạnh chỗ T3, T3 đi ra phía Tứ, giơ thanh kim loại lên thì T cầm kéo ở tay phải lao vào ôm, vật T3 làm cả hai ngã ra đường. Lúc này Công lao vào đè lên phần ngực anh T3, tay trái tỳ vào phần cổ anh T3, tay phải C đấm từ trên xuống dưới nhiều lần vào mặt T3. T3 không thở được nên có dùng tay phải đẩy, cào bấu vào vùng mặt của C. Lúc này T ở phía sau đè lên phần chân của T3, dùng tay phải cầm kéo đâm vào vùng bụng và sườn bên phải của T3. Thấy đánh nhau nên người dân xung quanh đó đã ra can ngăn, kéo T và Công ra, giằng chiếc kéo Tứ đang cầm ở tay phải, sau đó T, Công bỏ đi.

Hậu quả: Anh Tú bị thương tích ở vùng hạ sườn phải, vùng lưng phải, vùng mũi được điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh T, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%.

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tuy nhiên biên bản hỏi cung ngày 17/5/2024 và ngày 12/6/2024 T thay đổi nội dung lời khai thể hiện sau khi T gọi điện thoại thì T thấy C đi xe mô tô đến khu vực cầu L, T và C chưa gặp nhau, chưa nói chuyện gì với nhau. Quá trình T và Tú vật nhau thì T không biết C ở đâu.

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Thành Công k nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tuy nhiên biên bản hỏi cung ngày 17/5/2024, ngày 12/6/2024 C thay đổi nội dung lời khai, thể hiện: Khi bị cáo đi đến khu vực cầu L thì bị cáo không gặp T. C thấy T đang đứng ở gần khu vực giữa cầu phía bên cửa hàng kính mắt. Khi C đi đến giữa cầu thì thấy T đang đứng gần anh T3, T3 đang cầm 01 gậy bằng kim loại vụt về phía Tứ, trúng vào vai của T. C thấy T đang cầm 01 chiếc kéo ở tay phải lao vào ôm lấy T3 thì Công lao vào dùng người của C húc vào người T và anh T3 đang đứng ôm nhau làm ba người ngã ra đường sau đó C đè lên người T3, dùng tay đấm nhiều nhát vào mặt T3.

- Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 64/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Vương Anh T3 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm). Vết thương hạ sườn phải: Do vật sắc nhọn gây nên. Vết dẫn lưu vùng lưng phải: Do y tế can thiệp;

- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 153/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận: Vùng hạ sườn phải có vết sẹo nhỏ: 01%. Vùng lưng phải có vết sẹo trung bình: 02%. Gãy xương chính mũi 08%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Vương Anh T3 tại thời điểm giám định bổ sung là: 11% (Mười một phần trăm). Thương tích giám định bổ sung: Vùng lưng phải có vết sẹo trung bình: 02% (giám định lần 1 vết dẫn lưu nhỏ); Gãy xương mũi chính: 08%. Cơ chế: Vùng hạ sườn phải vết sẹo nhỏ: Do vật sắc nhọn gây nên; Vùng lưng phải có vết sẹo trung bình: Do vật sắc nhọn gây nên và mở rộng vết thương xử lý vết thương, đặt dẫn lưu; Gãy xương chính mũi: Do vật tầy tác động gây nên.

Cáo trạng số 139/CT-VKSTPTB ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đỗ Văn T và Đỗ Thành C về tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai:

- Bị cáo T khai: Bị cáo không dùng kéo đâm gây thương tích cho bị hại, vết thương ở vùng lưng và mạn sườn bên phải của bị hại là do bị cáo và bị hại ôm vật lộn với nhau khi đó tay phải bị cáo cầm kéo nên chiếc kéo vô tình gây nên vết thương cho bị hại. Bị cáo không cố ý gây thương tích cho bị hại.

- Bị cáo Công khai: Bị cáo đã dùng tay đấm vào mặt bị hại và gây thương tích cho bị hại với ý thức là can ngăn không cho bị hại đánh bố bị cáo.

* Phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành C mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng, nay bị hại không yêu cầu hai bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo quản lý của bị cáo, trả lại cho bị cáo T đôi giầy thể thao.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo bào chữa và có ý kiến tranh luận: Đều giữ ý kiến như đã trình bày tại phần xét hỏi.

- Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Bị cáo C không đồng phạm với bị cáo T về tội cố ý gây thương tích cho bị hại với tình tiết định khung có tính chất côn đồ. Bị cáo C phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là do bố bị cáo C bị bị hại đánh.

- Kiểm sát viên có ý kiến: Lời khai ban đầu của bị cáo C, lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo C đi cách bị cáo T khoảng 03m. Lời khai của bị hại và ba người chứng kiến đều thể hiện bị cáo đi ngay sau bị cáo T, khi bị cáo T và bị hại vật lộn ngã ra đường bị cáo Công lao vào dùng tay đấm vào vùng mặt của bị hại. Bị cáo T ban đầu khai dùng kéo gây thương tích cho bị hại, sau đó thay đổi lời khai, không nhận hành vi đâm gây thương tích cho bị hại, tuy nhiên lời khai của bị cáo C, bị hại và người làm chứng khai bị cáo T dùng kéo đâm bị hại và bị cáo C dùng tay đấm vào vùng mặt bị hại.

Không ai còn ý kiến gì khác.

* Các bị cáo nói lời sau cùng:

- Bị cáo T: Bị cáo không cố ý gây thương tích cho bị hại.

- Bị cáo C: Nhận thức về hành vi phạm tội của mình là sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo:

- Biên bản ghi lời khai của bị hại anh Vương Anh T3 tại bút lục số 124-133; 259-260 các ngày 04/02/52024, 08/02/2024, 26/3/2024, 06/5/2024, 13/7/2024 có nội dung: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 04/02/2024 anh T3 đứng bán sen đá tại khu vực cầu L 1 cùng bạn là chị Đặng Thị Minh P thì có xảy ra mâu thuẫn cãi vã với T về việc tranh chấp chỗ bán cây cảnh, được mọi người can ngăn nên T điều khiển xe bỏ đi. Khoảng 10 phút sau, anh T3 thấy T cầm 01 chiếc kéo ở tay phải đi về phía T3, đi ngay sau T là C, T chỉ tay phải đang cầm kéo về T3 nói to “Nó kia kìa”. Nghĩ Tứ định lao vào đánh nên T3 dùng tay phải vơ lấy 01 đoạn tuýp sắt không biết của ai để ở gần chỗ đứng, dơ gậy lên không cho T lao vào thì bất ngờ T dùng tay ôm và vật T3 ngã ra đường, tay phải Tứ vẫn đang cầm chiếc kéo. Lúc này đoạn tuýp sắt bị rơi ra. Khi Tứ vật T3 ngã ra đường thì Công lao vào ngồi đè lên phần ngực T3, tay trái C tỳ vào phần cổ T3, tay phải đấm liên tiếp vào mặt của T3 làm T3 bị choáng. Lúc này T3 bị ai đó giữ chặt phần chân. Khoảng 02 phút sau mọi người xung quanh vào can ngăn, có người cầm 01 miếng vải ra và bảo T3 bịt vào vùng thắt lưng bên phải rồi được mọi người đưa đi cấp cứu.

- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là bà Đặng Thị C1 tại bút lục số 99-105; 265-266 ngày 02/4/2024, 02/3/2024, 15/5/2024, 17/7/2024 có nội dung: Sáng ngày 04/02/2024, bà C1 bán hàng tại cầu L, đứng bên phải bà là T3 cùng một nữ giới đứng bán sen đá. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày bà thấy một nam giới (sau biết tên là T) đi xe mô tô chở cành đào đến gần vị trí T3 đang đứng. Bà nghe T3 nói với T là “Chỗ này chật rồi chú không vào được đâu” thì T chống chân xe máy, đi xuống trên tay phải cầm ra một chiếc kéo, lao vào đứng chỗ T3 đứng cãi nhau. Bà C1 can ngăn thì T điều khiển xe mô tô đi. Bà có nói với T3 “Cẩn thận nó côn đồ nó quay lại”. Khoảng 10 phút sau thì T đi bộ đến chỗ T3, đi ngay sau T là một người nam thanh niên (sau biết tên C). Trên tay phải T có cầm 01 chiếc kéo. Khi T cách T3 khoảng 02-03m, T3 đứng dậy cầm tuýp sắt ở bên cạnh đi về phía Tứ. T cầm kéo lao vào ôm và vật T3 khiến cả hai ngã ra đường. Bà thấy C đi ngay phía sau T chạy vào ngồi đè lên ngực T3 đang nằm trên đường, tay trái C tỳ vào cổ T3, tay phải C đấm nhiều lần vào mặt T3. Lúc này T ở phía sau dùng tay phải cầm kéo đâm liên tiếp vào phần bụng và sườn bên phải người T3. Thấy vậy mọi người vào kéo T và C ra ngoài, một người nam giới đã giằng chiếc kéo Tứ đang cầm trên tay ra. Sau đó T, C đã bỏ đi. T3 bị thương chảy máu ở mặt và vùng sườn phải.

- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng anh Đào Thế A tại bút lục số 106-111; 263-264 ngày 04/02/2024, 26/02/2024, 20/5/2024, 17/7/2024 có nội dung: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2024 anh đang đi bộ trên đường L về nhà thì nghe tiếng hô hoán ở phía cầu L nên chạy ra xem thì thấy có 01 người đàn ông trung tuổi (sau anh biết tên là T) đang cầm 01 chiếc kéo ở tay phải vật lộn với 01 người nam thanh niên khác (sau anh biết tên là T3). Lúc này có 01 người nam thanh niên khác ở phía sau T (sau anh biết tên là C) lao vào nằm đè lên ngực anh T3, anh C dùng tay trái tỳ vào phần cổ của T3, tay phải đấm nhiều phát vào mặt T3. Anh thấy T đang ở phía sau giữ T3, lúc này T3 nằm nghiêng trái, T dùng tay phải cầm kéo đâm liên tiếp vào phần bụng và sườn bên phải người T3. Thấy T định đâm tiếp anh có chụp lấy tay phải cầm kéo của T rồi kéo T ra, ngồi đè lên người Tứ, ấn tay phải của T xuống đường thì có người tới giằng kéo của T ra. Sau đó thì T, Công bỏ đi. Anh lại xem thì thấy T3 bị thương tích vùng mặt, vùng sườn bên phải chảy nhiều máu nên được đưa đi cấp cứu.

- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là chị Đặng Thị Minh P tại bút lục số 112-117; 261-262 ngày 04/02/2024, 24/02/2024, 22/5/2024, 16/7/2024 có nội dung: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2024, tại cầu L, tổ I, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, chị và anh T3 đứng bán sen đá thì có một người đàn ông đi tới bảo dọn gọn hàng vào để đứng cạnh bán đào. Anh Tú nói “chỗ này chật rồi, chú đi chỗ khác” thì người đàn ông cãi nhau với anh T3, tay phải có cầm 01 chiếc kéo. Được mọi người can ngăn thì người này điều khiển xe đi sang phía bên kia cầu. Khoảng 10 phút sau, chị thấy người đàn ông trên đi về phía T3, tay phải cầm 01 chiếc kéo, đi ngay phía sau người này là một nam thanh niên. Chị quay sang nói với T3 “Anh ơi người ta đến kìa” thì T3 nhìn thấy 2 người. T3 cầm 01 đoạn típ sắt ở thành cầu, đi về phía người đàn ông, tay phải típ giơ lên ngang người thì người đàn ông lao vào T3 làm cả 2 ngã ra đường, tay phải người này vẫn cầm kéo, còn đoạn típ sắt T3 cầm bị văng ra đường. Đồng thời chị thấy người thanh niên lao vào nằm đè lên ngực T3, tay trái tỳ vào cổ T3, tay phải đấm nhiều nhát vào mặt anh T3, lúc này người đàn ông đè giữ chân T3, tay phải cầm kéo đâm nhiều lần vào vùng bụng và hông bên phải T3. Người dân đến can ngăn, kéo người đàn ông cầm kéo và người thanh niên ra. Sau đó hai người bỏ đi, chị thấy T3 bị chảy máu ở vùng mặt, vùng lưng phải có hai vết rách chảy máu nên đưa anh T3 vào bệnh viện cấp cứu.

Bị cáo T không thừa nhận hành vi đã dùng kéo gây thương tích cho bị hại, các lời khai của bị cáo T khai mâu thuẫn nhau, lời khai của bị cáo T và lời khai của bị cáo Công khai mâu thuẫn nhau:

- Bị cáo T khai:

Bút lục 162 ngày 06/02/2024 có nội dung: ... tôi gọi điện cho con trai tôi là Đỗ Thành C, khoảng 10 phút thì C đến, tay phải tôi cầm một chiếc kéo, người bán sen đá cầm tuýt sắt vụt vào vai tôi, thấy vậy tôi lao vào người bán sen đá, C nằm đè lên người bán sen đá và dùng tay kẹp vào cổ người thanh niên, có ba người đàn ông kéo tôi ra và giằng được chiếc kéo tôi đang cầm ở tay phải.

Bút lục 165, 166, 168, 169 các ngày 07/02/2024, ngày 20/3/2024: ... Khi tôi bị 03 người đàn ông kéo vật tôi ra là do những người này giữ, giằng kéo trên tay tôi và can không cho chúng tôi đánh nhau nữa ... Tôi cam đoan khai báo là khách quan, đúng sự thật, không bị ai ép buộc, tác động gì.

Bút lục 170 ngày 04/4/2024: ... Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/02/2024 tôi (Tứ) cùng con trai tôi là Đỗ Thành C, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã Đ, thành phố T dùng kéo và tay đấm gây thương tích cho anh Vương Anh T3, sinh năm 2005, trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hậu quả làm anh T3 bị thương tích, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh T3 là 11% ...

Bút lục 172-178 các ngày 17/5/2024 và ngày 12/6/2024: ... Sau khi T gọi điện thoại thì T thấy C đi xe mô tô đến khu vực cầu L, T và C chưa gặp nhau, chưa nói chuyện gì với nhau. Quá trình T và Tú vật nhau thì T không biết C ở đâu ...

- Bị cáo Công khai:

Bút lục 181-182 các ngày 06/02/2024, ngày 07/02/2024: ... Bố tôi cầm kéo, người này cầm tuýt sắt lao vào đánh nhau, thấy vậy tôi chạy theo lao vào cả ba đều ngã ra đường. Người này dùng tuýt sắt định đánh vào người tôi, tôi dùng tay trái đỡ và dùng tay trái kẹp cổ và tay phải đấm liên tiếp vào vùng mặt của người nam thanh niên ... Tôi cam đoan khai là đúng sự thật, tự nguyện, không bị ai ép buộc gì.

Tại bút lục 184-186, 187-188 ngày 06/02/2024, ngày 07/02/2024: ... bố tôi đang xảy ra mâu thuẫn với người khác nên gọi tôi ra để giải quyết mâu thuẫn ... Người thanh niên đánh nhau với bố con tôi bị thương tích ở vùng mặt dẫn đến bị chảy máu vùng mặt là do tôi đấm nhiều nhát vào mặt gây lên, còn vết thương do người này bị bố tôi đâm cụ thể như thế nào tôi không biết ... Chiếc kéo bố tôi sử dụng để đâm người nam thanh niên dài khoảng 25cm, lưỡi kéo dài khoảng 15cm, cán kéo màu vàng, lưỡi kéo bằng kim loại sáng màu ... Ngoài tôi cùng bố tôi và người nam thanh niên đánh nhau thì không có ai khác tham gia vào sự việc trên. Quần chúng nhân dân xung quanh chỉ can ngăn giằng hung khí và kéo chúng tôi ra không để chúng tôi đánh nhau. Tôi cam đoan những nội dung đã khai báo là hoàn toàn khách quan, đúng sự thật, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bút lục 194-200 các ngày 17/5/2024 và ngày 12/6/2024: Thấy T cầm 01 chiếc kéo ở tay phải lao vào ôm lấy T3 thì Công lao vào dùng người húc vào người T và anh T3 đang đứng ôm nhau làm ba người ngã ra đường sau đó C đè lên người T3, dùng tay đấm nhiều nhát vào mặt T3 ...

Lời khai của bị cáo C, anh T3, bà C1, anh Thế A và chị P đều khai bị cáo T dùng kéo đâm anh T3, bị cáo C dùng tay đấm vào mặt anh T3, hai bị cáo gây thương tích cho anh T3. Các bị cáo đã được thông báo nội dung 02 bản kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh T3, các bị cáo đồng ý, không có ý kiến gì. Tại giai đoạn điều tra ban đầu bị cáo T khai đã dùng kéo gây thương tích cho anh T3, sau đó bị cáo thay đổi lời khai nhưng không có chứng cứ chứng minh. Như vậy đã rõ sự việc xảy ra ngày 04/02/2024 tại khu vực cầu L, tổ I, phường K, thành phố T bị cáo T và bị cáo C đã gây thương tích cho anh T3.

Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng bị cáo C phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là do bố bị cáo C bị bị hại đánh là không có căm cứ vì trước đó bị hại T3 không đánh bị cáo T. Khi bị cáo C đến gặp bị cáo T và đi ngay sau bị cáo T thì nhìn thấy bị cáo T và bị hại lao vào vật lộn nhau, liền ngay đó C cũng lao vào tay trái ghì cổ T3, tay phải đấm vào mặt T3.

Xét thấy lời khai của bị hại trong quá trình điều tra, lời khai nhận tội của các bị cáo là chứng cứ buộc tội lẫn nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và được chứng minh bằng: Giấy chứng nhận thương tích ban đầu đối với thương tích của anh Vương Anh T3; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 64/KLTTCT-TTPY ngày 16/02/2024; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 153/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 04/02/2024, tại cầu L, tổ I, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do mâu thuẫn trong việc tranh chỗ bán cây cảnh, Đỗ Văn T đã có hành vi dùng kéo đâm vào vùng lưng phải và vùng hạ sườn phải anh Vương Anh T3 và Đỗ Thành C dùng tay đấm vào mặt anh Vương Anh T3 khiến anh T3 thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây lên tại thời điểm giám định là 11%.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

[3] Xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác. Sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo T đã dùng kéo là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, bị cáo C đã dùng tay đấm nhiều lần vào mặt bị hại làm gẫy xương chính mũi bị hại, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ người khác. Hành vi của các bị cáo đã gây ra dư luận xấu trong cộng đồng dân cư. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự đều là người có nhân thân tốt. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 bộ luật Hình sự. Các bị cáo và gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 05 triệu đồng; bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, mẹ đẻ bị cáo T cũng là bà nội bị cáo C là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người gọi điện thông báo về việc bị đánh. T là người trực tiếp cầm kéo đâm, gây thương tích cho anh T3, C đã tiếp nhận ý trí và trực tiếp dùng tay đấm, gây thương tích cho anh T3, nên bị cáo Tứ xếp vai trò chính, bị cáo Công xếp vai trò thứ hai.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc tranh chấp chỗ bán cây cảnh mà bị cáo T dùng kéo đâm, bị cáo C dùng tay đấm gây thương tích cho bị hại, hai bị cáo coi thường sức khỏe của con người. Cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của các bị cáo, phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Hai bị cáo và gia đình đã bồi thường về dân sự cho bị hại số tiền 05 triệu đồng, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Bà Nguyễn Thị Ánh D là vợ bị cáo T và là mẹ đẻ bị cáo C đã bồi thường cho bị hại số tiền 05 triệu đồng, hai bị cáo trình bày đây là số tiền chung của gia đình, bà D tự nguyện bồi thường thay cho hai bị cáo và không có ý kiến gì về phần tiền của mình nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Chiếc kéo bị cáo T sử dụng vào hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại bị cáo T đôi giầy dạng thể thao đã quản lý. Chiếc tuýt sắt bị hại sử dụng khi xô sát với các bị cáo, cơ quan Điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Đỗ Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134) điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134) điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

3. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận hai bị cáo và gia đình đã bồi thường về dân sự xong cho bị hại là anh Vương Anh T3 số tiền 05 triệu đồng. Anh Tú không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thêm khoản gì khác nên không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chiếc kéo quản lý của bị cáo T. Trả lại bị cáo T đôi giầy dạng giầy thể thao.

5. Án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

(Vật chứng Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 26/7/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án ND tỉnh TB;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND TP Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 140/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐỖ Văn T cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger