Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HSST

Ngày 21 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

2. Bà Bùi Thị Hạnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2024/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 03/3/2006; HKTT và nơi ở: X, K, S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Tiến T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1966); Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:
  • + Bản án số 67/2024/HSST ngày 28/03/2024, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội Trộm cắp tài sản. (Không tích có án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 -Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Bị cáo: Nguyễn Công T2, sinh năm: 2004; HKTT và nơi ở: X, K, S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Công T3 (sinh năm: 1973); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q (sinh năm 1980); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 -Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại :

  1. Anh Giang Lê M, sinh năm 2005; HKTT : Đ, D, K, Hưng Yên ; Nơi ở : Số C hẻm A N, H, T, Hà Nội. (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Chị Vũ Thị Mai P, sinh năm 2005; HKTT : Số B T, thành phố S, tỉnh Sơn La ; Nơi ở : 17B ngõ D L, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Công ty T5; Địa chỉ: Lầu H Tòa nhà G, số B P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn L – Chuyên viên pháp lý tố tụng là nhân viên thuộc Phòng thu hồi nợ công ty. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Nguyễn Công T2Nguyễn Thành Đ không có công việc làm và cần tiền tiêu sài cá nhân nên đã bàn bạc, rủ nhau đi quanh các tuyến phố trong nội thành Hà Nội tìm xe máy sơ hở để trộm cắp. Sau đó, T2Đ đã chuẩn bị 01 chiếc kìm thủy lực để cắt phá khóa, 01 áo khoác xe ôm công nghệ để ngụy trang. Đồng thời phân công, T2 nghiên cứu cách đấu điện mở khóa xe và trực tiếp thực hiện việc trộm cắp; còn Đ sử dụng 01 chiếc xe Honda Vison, màu xám, không gắn biển số mà Đ mới mua để chở T2 đi và Đ sẽ ngồi trên xe cảnh giới. Trong ngày 10/4/2024, Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 08h00' ngày 10/4/2024, Đ điều khiển xe máy Honda Vision, không gắn biển kiểm soát chở T2, đi từ thôn X, K, huyện S, Hà Nội rồi qua các tuyến đường V, Cầu Nhật T4, Võ Chí C, Văn C1 xem có xe máy sơ hở để trộm cắp. Khoảng 09h00' cùng ngày, khi đi ngang qua Siêu thị C2 địa chỉ số A phố V, phường L, B, Hà Nội, thì cả hai phát hiện trên vỉa hè, trước cửa siêu thị dựng nhiều xe máy, xung quanh không có người trông giữ, có điều kiện để trộm cắp. Đ liền dừng xe dưới lòng đường để T2 xuống xe thực hiện việc trộm cắp, còn Đ ngồi trên xe máy quan sát và cảnh giới. T2 đi bộ đến khu vực để xe máy trước siêu thị, thấy chiếc xe máy Honda Wave Alpha, biển số 26A-408.95 của chị Vũ Mai P (Sinh năm: 2005; HKTT: Tổ 2, T, TP ., Sơn La) đầu xe dựng hướng ra ngoài đường, dễ trộm cắp và tẩu thoát. T2 ngồi xuống chỗ đầu xe, thò tay qua khe hở dưới yếm phải, đấu dây điện, thấy đèn công tơ mét sáng điện, T2 liền ngồi lên xe, gạt chân chống, đề nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát. Thấy T2 đã trộm cắp được xe máy, Đ liền điều khiển xe máy bám theo sau. Sau khi trộm cắp được chiếc xe máy trên, T2Đ mang cất giấu tại sân chung khu tập thể ngõ B phố P, C, B, Hà Nội rồi tiếp tục chở nhau đi tìm xe máy khác để trộm cắp.

- Vụ thứ hai: Khoảng 13h00' ngày 10/4/2024, Đ tiếp tục điều khiển xe máy Honda Vision, không gắn biển số, chở T2 đi lòng vòng dọc tuyến đường P - Khu Á - Nguyễn X tìm xe máy sở hở để trộm cắp. Khi đi đến trước số nhà C ngõ A đường N, H, T, Hà Nội thì cả hai phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58 của anh Giang Lê M (Sinh năm: 2005, Nơi ở: Số C ngõ A, H, T, Hà Nội) đang dựng trước cửa nhà, xung quanh vắng người. Thấy có điều kiện trộm cắp, Đ dừng xe lại cách một đoạn để quan sát và cảnh giới; còn T2 tiến đến gần xe, thò tay vào dưới yếm xe bên phải, đấu điện, thì thấy đèn công tơ mét sáng điện. T2 liền ngồi lên xe, nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát. Đ thấy T2 đã trộm cắp được xe, cũng điều khiển xe tẩu thoát theo sau. Sau khi trộm cắp được chiếc xe máy trên, ĐT2 đi đến sân Chung cư B N, phường T, Cầu G, Hà Nội, gửi chiếc xe máy Honda Vision, không gắn biển số của Đ rồi Đ điều khiển chiếc xe trộm cắp được chở T2 về S. Khi về đến Thị trấn P, T2 đứng đợi còn Đ điều khiển chiếc xe Honda Wave Alpha trộm cắp được đến nhà anh Nguyễn Quý L1 (SN: 2003; Nơi thường trú: thôn X, xã K, S, Hà Nội) để gửi, khi nào thời cơ thuận lợi sẽ mang đi tiêu thụ.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Vũ Mai P và anh G Lê M đã đến trình báo sự việc tại cơ quan công an.

Khoảng 18 giờ cùng ngày 10/4/2024, T2Đ đi taxi từ P, S xuống phố P, C, B, Hà Nội để lấy chiếc xe trộm cắp thì bị Cơ quan Công an phát hiện và đưa cả hai về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • + Thu giữ của Nguyễn Thành Đ
    • - 01 chiếc xe máy Honda Vision, màu xám, không gắn biển số, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 (đã qua sử dụng).
    • - 01 túi da màu nâu bên trong có 01 kìm thủy lực, màu vàng đen, kích thước khoảng 40 cm.
    • - 01 chiếc điện thoại iPhone 12, màu trắng, gắn sim số 0899.553.845 (đã qua sử dụng).
  • + Thu giữ của Nguyễn Công T2
    • - 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 26AA-408.95, số khung RLHJA3939RY603429, số máy JA70E0265041.
    • - 01 khóa dây màu đỏ dài khoảng 60 cm.
    • - 01 chiếc điện thoại iPhone 14 Promax, màu vàng, gắn sim số 0866.473.367 (đã qua sử dụng).
    • - 01 chiếc áo khoác màu vàng, có dòng chữ Bee; 01 chiếc áo khoác màu đen, tay áo có xọc trắng, ngực áo in Adidas. Đây là trang phục T2 mặc khi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2024.

Cơ quan điều tra còn thu giữ 03 đoạn video camera an ninh ghi lại hình ảnh trộm cắp của ĐT2, được chuyển thành tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, vật chứng của vụ án còn có 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58 bị T2Đ chiếm đoạt trong vụ án không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34, 45 ngày 17/4/2024 và ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B:

  • - 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 26AA-408.95, số khung RLHJA3939RY603429, số máy JA70E0265041 (đã qua sử dụng) có giá trị 18.000.000 đồng.
  • - 01 xe máy Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58, số khung RLHJA3936PY626986, số máy JA70E0095878 (đã qua sử dụng) có giá trị 16.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngoài ra Nguyễn Thành Đ còn khai: Sau khi trộm cắp chiếc xe Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58, Đ đã mang đến nhà Nguyễn Quý L1 (SN: 2003; Nơi thường trú: Thôn X, xã K, S, Hà Nội) để gửi. Tại Cơ quan điều tra, L1 khẳng định không có việc Đ mang xe máy đến nhà gửi. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa ĐL1 nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra. Ngoài lời khai của Đ không có tài liệu nào chứng minh Đ gửi xe tại nhà L1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét đối với hành vi của L1.

  • - Ngày 16/05/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho chị Vũ Thị Mai P. Chị P đã nhận lại chiếc xe trên và không có ý kiến gì.
  • - Ngày 17/8/2024, anh Giang Lê M đã được gia đình bị cáo Đ, bị cáo T2 bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá tài sản là 16.000.000 đồng. Anh Đ đã nhận lại chiếc xe trên và không có ý kiến gì.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSBĐ ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Nguyễn Công T2 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã kết luận: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Nguyễn Công T2 đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản vào ngày 10/4/2024, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 34.000.000 đồng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với bị cáo Nguyễn Công T2. Về tình tiết tăng nặng, các bị cáo đều 2 lần phạm tội là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo Nguyễn Thành Đ mặc dù có án tích theo bản án số 67 ngày 28/3/2024 nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên theo quy định tại Điều 107 BLHS, bị cáo được coi là không có án tích. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo không bị xác định là tái phạm.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ, xử phạt bị cáo mức án từ 20 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 67 ngày 28/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 28 đến 32 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T2 xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 22 tháng tù.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu xung công 01 chiếc xe máy Honda Vision, màu xám, không gắn biển số, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 (đã qua sử dụng), 01 chiếc điện thoại iPhone 12, màu trắng, gắn sim số 0899.553.845 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Đ. Tịch thu xung công 01 chiếc điện thoại iPhone 14 Promax, màu vàng, gắn sim số 0866.473.367 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo T2.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi da màu nâu, 01 kìm thủy lực, màu vàng đen, kích thước khoảng 40 cm thu giữ của bị cáo Đ, 01 khóa dây màu đỏ dài khoảng 60 cm, 01 chiếc áo khoác màu vàng, có dòng chữ Bee; 01 chiếc áo khoác màu đen, tay áo có xọc trắng, ngực áo in Adidas thu giữ của bị cáo T2.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng, biên bản bắt giữ người, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận định giá cùng các tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/04/2024, bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Nguyễn Công T2 đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

  • - Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ ngày 10/4/2024, tại trước cửa số nhà A phố V, phường L, B, Hà Nội, bị cáo ĐT2 đã trộm cắp của chị Vũ Thị Mai P 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 26AA-408.95 trị giá 18.000.000 đồng.
  • - Lần thứ hai: Vào khoảng 13 giờ ngày 10/4/2024, tại trước cửa số nhà C ngõ A đường N, phường H, quận T, Hà Nội, bị cáo ĐT2 tiếp tục trộm cắp của anh G Lê M 01 xe máy Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58 trị giá 16.000.000 đồng.

Tổng tài sản các bị cáo trộm cắp có giá trị là 34.000.000đồng.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, tại thời điểm phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần vào ngày 10/4/2024 là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ có nhân thân xấu 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 67 ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản bị cáo thực hiện khi chưa đủ 18 tuổi. Mặc dù theo quy định tại Điều 107 BLHS, tiền án này của bị cáo không được coi là có án tích nhưng thể hiện bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, cải tạo mà với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo lại tiếp tục phạm tội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo đã tích cực bồi thường cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Công T2 nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Vì vậy, khi lượng hình, HĐXX giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa cũng là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

[7]. Về vật chứng:

  • - Đối với chiếc xe máy Honda Vision, màu xám, không gắn biển số, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Đ, bị cáo Đ khai là xe của bị cáo, bị cáo đứng tên trên Giấy đăng ký xe do bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu trắng gắn sim số 0899553845 đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thành Đ và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng gắn sim số 0866473367 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T2 : Tại phiên tòa, các bị cáo ĐT2 khai nhận, sau khi trộm cắp 2 chiếc xe máy, các bị cáo đã sử dụng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc trao đổi về việc tiêu thụ tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với các vật chứng gồm: 01 túi da màu nâu đã qua sử dụng bên trong có 01 kìm thủy lực, màu vàng đen, kích thước khoảng 40 cm đã qua sử dụng, 01 khóa dây màu đỏ dài khoảng 60 cm đã qua sử dụng, 01 chiếc áo khoác màu vàng, có dòng chữ Be đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu đen, tay áo có xọc trắng, ngực áo in Adidas đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo T2Đ: xét thấy không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Mai P đã được nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 26AA-408.95. Anh Giang Vũ M1 đã được bồi thường số tiền 16.000.000 đồng là giá trị chiếc xe máy Honda Wave Alpha, biển số 89E1-909.58 do không thu hồi được. Chị P và anh M1 không có yêu cầu gì khác về dân sự nên HĐXX không xem xét.

  • - Công ty T5 trình bày: Ngày 22/3/2024, giữa Công ty và bị cáo Nguyễn Thành Đ có ký hợp đồng vay tiền và bị cáo đã thế chấp chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISON, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 để đảm bảo cho khoản vay. Nay Công ty yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết trả lại cho Công ty T5 tài sản thế chấp của bị cáo Nguyễn Thành Đ tại Công ty là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISON, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 để Công ty xử lý khoản vay của bị cáo Đ. Ngoài ra, Công ty T5 không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề dân sự nào khác. Công ty T5 không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc vay nợ giữa Công ty T5 và bị cáo Nguyễn Thành Đ. Về yêu cầu này do chiếc xe là tang vật của vụ án nên cần phải tịch thu xung quỹ Nhà nước nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu này của Công ty T5.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, Người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Công T2.

  • - Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 08 tháng tù của bản án số 67/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T2 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự:

  • - Không chấp nhận yêu cầu của Công ty T5 về việc trả lại cho Công ty A (một) chiếc xe máy Honda Vision, màu xám, không gắn biển số, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202.
  • - Dành quyền khởi kiện cho Công ty T5 bằng một vụ kiện dân sự khác đối với việc vay tiền trả góp giữa Công ty T5 và bị cáo Nguyễn Thành Đ nếu Công ty có yêu cầu.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe máy Honda Vision, màu xám, không gắn biển số, số khung RLHJK0349RZ433662, số máy JK03E6349202 (đã qua sử dụng).
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu trắng gắn sim số 0899553845 đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng gắn sim số 0866473367 đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 túi da màu nâu đã qua sử dụng bên trong có 01 kìm thủy lực, màu vàng đen, kích thước khoảng 40 cm đã qua sử dụng, 01 khóa dây màu đỏ dài khoảng 60 cm đã qua sử dụng, 01 chiếc áo khoác màu vàng, có dòng chữ Be đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu đen, tay áo có xọc trắng, ngực áo in Adidas đã qua sử dụng.

Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 181 ngày 06/8/2024.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Nguyễn Thành ĐNguyễn Công T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I Hà Nội;
  • - UBND xã Kim Lũ, Huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
  • - Các bị cáo;
  • - Người bị hại, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 140/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Hình sự sơ thẩm về "Trộm cắp tài sản" của bị cáo Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Công T2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger