Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/DS-PT

Ngày: 19-02-2025.

V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho

quyền sử dụng đất và hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 12, 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 627/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 715/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975.
    2. Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1990.

    Cùng địa chỉ: Số B, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông L và bà T: Bà Nguyễn Thùy P, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C Ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/12/2023).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1972.

      Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

    2. Ông Nguyễn Chí B, sinh năm 1997.

      Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

    3. Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1990.

      Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

    4. Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1989.

      Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

    5. Văn phòng C.

      Địa chỉ: Số A N, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Long A1 – chức vụ: Trưởng Văn phòng công chứng.

    6. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

      Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T.

(Bà P, bà G, ông B, bà A1 có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thùy P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 (viết tắt là ông L2) và bà Huỳnh Thị Thanh T trình bày:

Do mối quan hệ quen biết, vợ chồng ông L2, bà T có cho ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 (viết tắt là ông L1) vay số tiền là 910.000.000 đồng nhưng ông L1 không trả.

Vợ chồng ông L2 và bà T có làm đơn khởi kiện về việc này tại Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và đã được Tòa án giải quyết bằng bản án số 27/2023/DS-ST ngày 30/5/2023, xử buộc ông Nguyễn Văn L1 phải trả cho vợ chồng ông L2 và bà T số tiền gốc 910.000.000 đồng và 73.230.500 đồng, tổng cộng là 983.230.500 đồng. Tuy nhiên, ông L1 không đồng ý với Bản án Sơ thẩm nên đã kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An cũng tuyên như bản án sơ thẩm. Trong thời gian kháng cáo và chờ thời gian xét xử phúc thẩm, ngày 04/8/2023, ông L1 làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số: 40, tờ bản đồ số: 25, diện tích: 654 m², loại đất: ONT, vị trí đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An cho con ruột là ông Nguyễn Chí B tại Văn phòng C. Đến ngày 11/8/2023, ông B ký chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thúy A số công chứng: 1604; Quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Việc này cho thấy rằng: Ông Long66 cố tình tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ Thi hành án cho vợ chồng ông L2 và bà T.

Vì vậy, ông L2 và bà T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ xem xét giải quyết các vấn đề như sau:

  • - Yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị G với ông Nguyễn Chí B được xác lập và công chứng vào ngày 04/8/2023, số công chứng: 1571; Quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
  • - Yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Chí B với bà Nguyễn Thị Thúy A được xác lập và công chứng vào ngày 11/8/2023, số công chứng: 1604, Quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng chứng Nguyễn Long A1.

* Bị đơn là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 (Viết tắt là ông L1) có đơn xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng. Tại biên bản ghi lời khai của đương sự ngày 10/7/2024, ông L1 có ý kiến:

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L2 và bà T. Bởi vì, thửa đất số 40, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã N, huyện T, tỉnh Long An trước đây vợ của ông là bà Phạm Thị G có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với ông L2 và bà T và đã được giải quyết tại bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông với ông L2.

Sau đó, ông và bà G được thực hiện thủ tục sang tên lại đối với thửa đất số 40 và ông phải có nghĩa vụ trả cho ông L2 số tiền 554.000.000 đồng và tiền án phí. Đồng thời, ông còn phải thi hành bản bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An với số tiền 156.000.000 đồng và ông còn nợ một số người khác ở bên ngoài.

Thời điểm đó, ông và bà G không có làm gì ra tiền. Hai đứa con trai cũng không có việc làm; Chỉ có con gái của ông là bà Nguyễn Thị Thúy A làm ăn có tiền và sống với chồng ở xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Ông có đề nghị bà A nhận chuyển nhượng nhà và đất tại thửa đất số 40 để ông có tiền trả nợ hai bản án nêu trên và bên ngoài cho xong.

Vợ chồng của ông và bà A có thỏa thuận đưa cho ông số tiền 2.400.000.000 đồng để ông trả nợ hai bản án nêu trên và nợ bên ngoài cũng hơn số tiền này. Sau khi trả nợ xong và thực hiện nghĩa vụ án phí, ông và bà G mới làm thủ tục sang tên lại thửa đất 40 cho ông và bà G đứng tên và được cấp giấy chứng nhận vào ngày 27/7/2023. Khi đó, ông thường xuyên không có ở nhà và bà A có con bệnh liên tục nên bà A có nói ông là sang tên qua cho ông B. Đến khi nào bà A về thì ký chuyển nhượng sang lại cho bà A. Sau đó, vợ chồng ông có ký tặng cho ông B thửa đất số 40 vào ngày 04/8/2023. Rồi sau đó, ông B mới chuyển nhượng lại cho bà A. Bà A đã đưa tiền cho ông trả nợ hai bản án và nợ bên ngoài là 2.400.000.000 đồng. Do đó, ông có thỏa thuận là sẽ chuyển nhượng lại nhà và đất tại thửa số 40 nêu trên là hoàn toàn sự thật. Đề nghị Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi cho gia đình ông.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G trình bày:

Năm 2021, bà có khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn L2 yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L1 và ông Nguyễn Văn L2 và yêu cầu hủy chỉnh lý biến động sang tên ông Long75 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 349758 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 30/7/2013 cho ông Nguyễn Văn L1; yêu cầu khởi kiện của bà được giải quyết tại bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An nội dung chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời tuyên buộc ông L1 phải trả cho ông L2 số tiền 554.000.000 đồng và án phí.

Mặc khác, ông L1 còn phải thi hành bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ với số tiền 156.000.000 đồng và ông L1 còn nợ một số người bên ngoài. Đối với các khoản nợ phải thi hành theo 02 bản án nêu trên và nợ cá nhân bên ngoài là nợ cá nhân của ông L1 không phải nợ chung của bà với ông L1 nhưng do tình nghĩa vợ chồng nên bà đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại thửa số 40 nêu trên để lấy tiền nộp thi hành án và trả nợ cho ông L1. Khoảng đầu năm 2023, bà và ông L1 có thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhà cho bà Nguyễn Thị Thúy A với giá 2.400.000.000 đồng nhưng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 349758 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 30/7/2013 cho ông Nguyễn Văn L1 vẫn còn đứng tên ông L2 và để được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L1 phải thực hiện nghĩa vụ đối với 02 bản án nêu trên nên ngày 01/5/2023 tôi và ông L1 có nhận số tiền 2.400.000.000 đồng để nộp thi hành án và trả nợ cho ông L1.

Do ông L1 thường xuyên vắng nhà nên ngày 04/8/2023 sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 474334 ngày 27/7/2023 thì có liên hệ với bà A để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng do bà A bận việc và ở xa nên không thể về vào ngày này nên bà và ông L1 mới lập hợp đồng tặng cho ông Nguyễn Chí B để khi nào bà A liên hệ thì ông B sẽ ký thủ tục chuyển nhượng lại cho bà A. Đến ngày 11/8/2023, bà A liên hệ với ông B để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A thửa đất số 40 nêu trên.

Bà xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại thửa số 40, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An là có thật. Bà và ông L1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng của bà A nhưng bà A chưa sử dụng nhà và đất nên để cho bà và ông B tiếp tục sinh sống tại căn nhà này.

Mặc khác, quyền sử dụng đất tại thửa số 40 nêu trên là tài sản chung của bà với ông L1 nhưng ông L1 thiếu nhiều người và có nghĩa vụ thi hành 02 bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đều là nợ cá nhân của ông L1 không phải nợ chung của vợ chồng. Do đó, số tiền ông L1 dùng để trả nợ và nộp thi hành án số tiền khoảng 2.100.000.000 đồng là đã hơn phần trăm giá trị quyền sử dụng đất và căn nhà tại thửa số 40.

Nay ông Nguyễn Văn L2 và bà T khởi kiện yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/8/2023 giữa bà và ông L1 với ông B và yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2023 giữa bà A với ông B là không có cơ sở do ông L1 đã dùng tiền chuyển nhượng để thi hành 02 bản án và trả nợ cá nhân không phải trốn tránh nghĩa vụ thi hành án như ông L2 nêu ra. Ngoài ra, bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ông L1 phải thi hành án đối với ông L2 và đã thực hiện xong. Do đó, khi ký thủ tục chuyển nhượng cho bà A thì ông L1 không còn nghĩa vụ thi hành án đối với bất kỳ bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật nào.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy A trình bày:

Khoảng đầu năm 2023, bà biết được cha của bà là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 đang phải thi hành bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tất cả các khoản phải thi hành hơn 700.000.000 đồng. Ngoài ra, ông L1 còn nợ bên ngoài số tiền 2.000.000.000 đồng.

Do ông L1 không có tiền để thi hành án và trả nợ nên bà đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại thửa số 40 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An với giá là 2.400.000.000 tỷ đồng. Thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 349758 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 30/7/2013 cho ông L1 và được cập nhật biến động ngày 02/6/2021 sang tên ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975;

Theo bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên hủy nội dung chỉnh lý biến động ngày 02/6/2021 nhưng đang trong quá trình thi hành án và ông L1 phải thực hiện nghĩa vụ tại hai bản án nêu trên nên ngày 01/5/2023 bà đã giao số tiền 2.400.000.000 đồng cho ông L1 và bà Phạm Thị G để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

Đến ngày 27/7/2023, ông L1 và bà G được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 474334. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng nhưng do ông L1 thường xuyên đi vắng nên ngày 04/8/2023 ông L1 về nhà và có liên hệ bà để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên nhưng do bà bận việc và ở xa nên có nhờ ông Nguyễn Chí B đứng tên ký thủ tục chuyển nhượng thông qua Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1604 quyển số 02/2023TP/CC- SCC/HĐCN tại Văn phòng C.

Sau khi ký hợp đồng tặng cho thì ngày 04/8/2023 ông Nguyễn Chí B được cập nhật chuyển quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 474334. Đến ngày 11/8/2023, bà với ông B ra Văn phòng công chứng Nguyễn Long A1 để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1604 quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD và chỉ ghi giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 600.000.000 đồng. Ngày 18/8/2023, bà được cập nhật sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 474334.

Đối với Hợp đồng chuyển nhượng không ghi nhận về căn nhà trên đất là do căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nên không thể ghi vào hợp đồng chuyển nhượng nhưng các bên thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất. Do chưa có nhu cầu sử dụng nhà và đất nên sau khi nhận chuyển nhượng thì bà vẫn để cho bà G, ông B sinh sống tại đây. Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại thửa 20 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã N, huyện T là đúng với quy định của pháp luật. Thời điểm nhận chuyển nhượng thì ông L1 phải thi hành 02 bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, khi đó ông L1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thi hành án đối với hai bản án nêu trên. Đồng thời, phần đất thửa 40 cũng không bị kê biên thi hành án hay bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định ngăn chặn việc chuyển nhượng.

Nay ông Nguyễn Văn L2 và bà T khởi kiện yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2023 giữa bà với ông Nguyễn Chí B thì bà không đồng ý. Bởi vì, bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại thửa 40 là đúng quy định pháp luật không nhằm trốn tránh nghĩa vụ như ông L2 và bà T nêu ra.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Chí B trình bày:

Ông là con của bà Phạm Thị G và ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966; Ngày 04/8/2023, ông L1 và bà G có ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông đối với thửa đất số 40 nêu trên nhưng thực tế ông chỉ đứng tên dùm bà A1 để sau này làm thủ tục chuyển nhượng lại cho bà A1 như đúng lời trình bày của ông L1, bà G và bà A1.

Nay ông L2 và bà T khởi kiện yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/8/2023 giữa ông với ông L1, bà G và yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2023 ông với bà A1 thì ông không đồng ý. Lý do: việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà trên đất là có thật.

Ông L1 và bà G đã nhận đủ tiền thỏa thuận chuyển nhượng với bà A1 là 2.400.000.000 đồng; Còn đối với căn nhà trên thửa đất số 40 vì ông và bà G có chỗ ở nên bà A1 cho ở lại căn nhà trên đất vì bà A1 ở xa, chưa có nhu cầu sử dụng.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Hoàng T1 vắng mặt có ý kiến trình bày: Ông không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông L2 và bà T. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Văn phòng C vắng mặt có ý kiến trình bày:

Văn phòng C nhận thấy việc chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số 1571, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/8/2023 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1604, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/8/2023 là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã cung cấp thông tin, chứng cứ cho Tòa án và có ý kiến vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ.

Vụ án đã được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật và tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 500, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật Đất đai 2013; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối với thửa đất số 40 từ ông Nguyễn Văn L 1966 và bà Phạm Thị G tặng cho ông Nguyễn Chí B được xác lập và công chứng vào ngày 04/8/2023 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 40 từ ông Nguyễn Chí B cho bà Nguyễn Thị Thúy A được xác lập và công chứng vào ngày 11/8/2023.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng): Buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải chịu toàn bộ, đã nộp và chi xong.
  3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải liên đới chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009342 và số 0009343 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 19/9/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thùy P trình bày: Việc ông L ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông B, sau đó ông B chuyển nhượng cho bà A là cố tình tẩu tán tài sản, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Bà Phạm Thị G trình bày: Việc ông L và bà G chuyển nhượng tài sản cho bà A là để lấy tiền thi hành án 02 bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, không phải tẩu tán tài sản. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Chí B trình bày: Ông chỉ đứng tên dùm bà A, còn việc chuyển nhượng với số tiền bao nhiêu thì ông không biết, ông đã chuyển nhượng lại cho bà A đứng tên. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thúy An trình bày: Bà đã bỏ tiền đưa cho ông L thi hành án 02 bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ và bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, nhưng do bà bận công việc nên ông B đứng tên dùm bà, sau đó ông B đã chuyển nhượng lại cho bà. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Bà Huỳnh Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn L sinh năm 1975 kháng cáo, theo hướng sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu nguyên đơn: tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L sinh năm 1966 và bà Phạm Thị G với ông Nguyễn Chí B được xác lập và công chứng vào ngày 04/8/2023 và vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Chí B với bà Nguyễn Thị Thúy A ngày được xác lập và công chứng vào ngày 11/8/2023, với lý do bị đơn ông L sinh năm 1966 có hành vi tẩu tán tài sản không thực hiện nghĩa vụ tại Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An cho ông L2 và bà T. Xét thấy:

Ông L sinh năm 1966 là người phải thi hành án theo các bản án gồm: Bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ trả bà Nguyễn Thị L3 với số tiền 156.000.000 đồng, lãi chậm thi hành án và án phí. Bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trả cho ông L 1975 số tiền 554.000.000 đồng, lãi suất chậm thi hành án và án phí. Thửa đất số 40 của ông L 1966 đang do ông L 1975 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 01/6/2023, ông L sinh năm 1966 có trả cho bà Nguyễn Thị L3 số tiền 156.000.000đ. Ngày 17/7/2023 Chi cục thi hành án đã trả cho ông L sinh năm 1975 số tiền 592.163.262đ.

Theo Công văn số 890 ngày 02/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ xác định ông L sinh năm 1966 đã thi hành án toàn bộ nghĩa vụ của ông L sinh năm 1966 đối với 02 bản án nêu trên.

Theo Chứng thư thẩm định giá số 020 ngày 29/7/2024 của Công ty cổ phần T2 thì vào thời điểm tháng 7/2024 thửa đất số 40 có trị giá là 2.571.339.000 đồng.

Bà G và bà A trình bày nguồn tiền mà ông L sinh năm 1966 có được để thi hành nghĩa vụ tại 02 bản án trên là do đầu năm 2023 giữa ông L sinh năm 1966, bà G và bà A có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 40 với số tiền 2.400.000.000 đồng để ông L sinh năm 1966 có tiền thi hành án, nhưng do thời điểm đó thửa đất số 40 do ông L sinh năm 1975 đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng được. Sau khi ông L sinh năm 1966 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thi hành án đối với hai bản án nêu trên, ông L sinh năm 1966 được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên sẽ thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà A là có căn cứ.

Ông L sinh năm 1966 dùng số tiền chuyển nhượng đất cho bà A để thi hành các nghĩa vụ phải thi hành án thì thửa đất thửa 40 được cấp lại cho ông L 1966 vào ngày 27/7/2023. Ngày 04/8/2023, ông L sinh năm 1966 và bà G thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho ông B. Ngày 11/8/2023, ông B thực hiện chuyển nhượng cho bà A. Trong khi thời điểm này, thửa đất 40 không bị kê biên thi hành án hay bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định ngăn chặn việc chuyển nhượng và Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực ngày 30/8/2023 nên không được xem là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và cũng không thuộc trường hợp thực hiện giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án theo khoản 2 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự, khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015. Từ đó Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn là ông L1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hoàng T1, Ông Nguyễn Long A1 đại diện cho Văn phòng C; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T, thấy rằng:
    1. [3.1] Nguyên đơn ông L2 và bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L1 và bà Phạm Thị G với ông Nguyễn Chí B được xác lập và công chứng vào ngày 04/8/202, số công chứng: 1571; Quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C và vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Chí B với bà Nguyễn Thị Thúy A ngày được xác lập và công chứng vào ngày 11/8/2023, số công chứng: 1604, Quyển số 02/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C với lý do bị đơn ông L1 có hành vi tẩu tán tài sản không thực hiện nghĩa vụ tại Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An cho ông L2 và bà T.

      Ngược lại, bị đơn ông L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng bị đơn không có hành vi tẩu tán tài sản như nguyên đơn trình bày. Các đương sự thống nhất sử dụng Mảnh trích đo địa chính số 125-2022 do Công ty TNHH Đ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt vào ngày 04/7/2022 (không yêu cầu đo đạc lại thửa đất 40) và Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.

    2. [3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cho rằng: Ngày 22/02/2023, ông L2 và bà T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, về việc yêu cầu Tòa án buộc ông L 66 phải trả số tiền nợ gốc là 910.000.000 đồng và lãi là 409.591.000 đồng.

      Ngày 30/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ ban hành bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST, quyết định buộc ông L1 phải trả cho ông L2 và bà T số tiền nợ vay là 910.000.000 đồng và tiền lãi là 73.230.500 đồng, tổng cộng là 983.230.500 đồng. Không đồng ý với bản án sơ thẩm này, ông L1 đã kháng cáo toàn bộ bản án. Trong khi chờ kết quả xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm, ngày 04/8/2023, ông L1 và bà Phạm Thị G đã lập hợp đồng tặng cho ông Nguyễn Chí B quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 40, tờ bản đồ số: 25, diện tích: 654 m², loại đất: ONT, vị trí đất tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

      Đến ngày 11/8/2023, ông Nguyễn Chí B ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 40 nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thúy A. Cả hai hợp đồng nêu trên đều được Văn phòng C thực hiện việc công chứng. Ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã ban hành Bản án Dân sự phúc thẩm số 315/2023/DS-PT, quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L2 và bà T về việc buộc ông L1 phải trả số tiền nợ vay là 910.000.000 đồng và tiền lãi là 73.230.500 đồng, tổng cộng là 983.230.500 đồng.

      Do đó, ông L1 ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 40 cho ông Nguyễn Chí B, ông B thực hiện chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thúy A nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án tại Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An cho ông L2 và bà T.

    3. [3.3] Xét về nguồn gốc của thửa đất 40 và việc trả nợ của ông L1, thấy rằng:

      Thửa đất 40 của ông L1 có được do ông L1 phải thi hành bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trả cho ông L2, với số tiền 554.000.000 đồng, lãi suất chậm thi hành án và án phí. Quyền sử dụng thửa số 40 của ông L1 đang do ông L2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông L1 được quyền đăng ký sử dụng lại đối với thửa đất 40.

      Đồng thời, tại thời điểm này, ông L1 còn phải thi thành đối Bản án số 46/2019/DS-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ trả bà Nguyễn Thị L3 với số tiền 156.000.000 đồng, lãi chậm thi hành án và án phí.

      Tại Công văn số 890 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ xác định: Ông L1 phải thi hành Bản án số 402/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trả cho ông L2 số tiền 554.000.000 đồng, lãi suất chậm thi hành án và án phí. Ngày 12/6/2023, ông L1 đã nộp 617.248.333 đồng để hoàn trả cho ông L 1975 (gồm tiền theo bản án tuyên và tiền lãi chậm thi hành án).

      Ngày 12/6/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ thông báo cho ông L 1975 nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 40. Quá 10 ngày mà ông L 1975 không giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 40 nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 40 cho ông L 1966. Ngày 17/7/2023, ông L 1975 đã nhận số tiền được thi hành án và các đương sự đã thi hành xong các khoản án phí. Như vậy, ông L1 đã phải thi hành toàn bộ nghĩa vụ của ông L1 đối với 02 bản án nêu trên trước khi được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 40.

    4. [3.4] Theo Chứng thư thẩm định giá số 020/2024/341-HD/TĐG LA-BĐS ngày 29/7/2024 của Công ty cổ phần T2 thì vào thời điểm tháng 7/2024 thửa đất số 40 có trị giá là 2.571.339.000 đồng.
    5. [3.5] Quá trình giải quyết vụ án, ông L1, bà G và bà A trình bày về nguồn tiền mà ông L1 có được để thi hành nghĩa vụ tại 02 bản án trên là do đầu năm 2023 giữa ông L1, bà G và bà A có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 40 với số tiền 2.400.000.000 đồng để ông L1 có tiền thi hành án (việc thỏa thuận mua bán nhà và đất có lập thành văn bản thể hiện tại bút lục 80-81), nhưng do thời điểm đó thửa đất số 40 do ông L2 đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng được.

      Sau khi ông L1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thi hành án đối với hai bản án nêu trên, ông L1 được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên sẽ thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà A là có căn cứ và phù hợp với thực tế. Sau khi ông L1 dùng số tiền chuyển nhượng đất cho bà A để thi hành các nghĩa vụ phải thi hành án thì thửa đất thửa 40 được cấp lại cho ông L1 và bà G vào ngày 27/7/2023.

      Ngày 04/8/2023, ông L1 và bà G thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho ông B. Ngày 11/8/2023, ông B thực hiện chuyển nhượng thửa đất số 40 cho bà A.

      Trong khi thời điểm này, thửa đất 40 không bị kê biên thi hành án hay bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định ngăn chặn việc chuyển nhượng và Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực ngày 30/8/2023 nên không được xem là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và cũng không thuộc trường hợp thực hiện giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án theo khoản 2 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự, khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ về việc quy định về chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật thi hành án dân sự.

      Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông L1 thì nguyên đơn cũng biết việc phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn nhưng nguyên đơn không thực hiện do tại thời điểm đó nguyên đơn sợ rằng không đủ tiền để thực hiện việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật nên nguyên đơn đã không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với ông L1.

    6. [4] Từ những phân tích trên thấy rằng: Ông L2 và bà T cho rằng trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông L1 thì ngày 04/8/2023 ông L1 đã tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất số 40 cho ông Nguyễn Chí B. Ngày 11/8/2023, ông B thực hiện chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thúy A nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án tại Bản án phúc thẩm số 315/2023/DS-PT ngày 30/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An cho ông L2 và bà T là không có cơ sở.
  4. [5] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T.
  5. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. [7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng): Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T không được chấp nhận nên buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải chịu toàn bộ, đã nộp và chi xong theo quy định tại Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  7. [8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải liên đới chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T không được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  8. [9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và bà Huỳnh Thị Thanh T không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1975) và bà Huỳnh Thị Thanh T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 500, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật Đất đai 2013; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đối với thửa đất số 40 từ ông Nguyễn Văn L 1966 và bà Phạm Thị G tặng cho ông Nguyễn Chí B được xác lập và công chứng vào ngày 04/8/2023 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 40 từ ông Nguyễn Chí B cho bà Nguyễn Thị Thúy A được xác lập và công chứng vào ngày 11/8/2023.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng): Buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải chịu toàn bộ, đã nộp và chi xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T phải liên đới chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009342 và số 0009343 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1975) và bà Huỳnh Thị Thanh T mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0009678, 0009679 ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Tân Trụ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Trụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/DS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 140/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger