|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HS-ST Ngày: 25-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trung Chính
- Ông Vũ Ngọc Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Tôn Nữ Kim K; Sinh ngày: 02/9/1979 tại tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Tôn Văn N (sinh năm 1955) và bà: Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1955); Tiền án, tiền sự: Không có; Hoàn cảnh gia đình: Chồng: Đinh Thành N2 (sinh năm 1974), có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Từ ngày 08/02/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Võ Thị Ngọc A, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Số B L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/01/2024, bà Võ Thị Ngọc A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (Phòng PC02) tố cáo Tôn Nữ Kim K cho vay lãi nặng, với lãi suất từ 0,4%/ngày đến 0,5%/ngày (tương đương 144% đến 180%/năm); việc thanh toán tiền vay, lãi được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H lập biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kết quả điều tra xác định được như sau:
Từ ngày 01/3/2023 đến ngày 02/8/2023, Tôn Nữ Kim K sử dụng các tài khoản ngân hàng số 19033886675018 mở tại ngân hàng T2, do Tôn Nữ Kim K là chủ tài khoản và một số tài khoản của người thân, quen với K để chuyển tiền vào các tài khoản số 31710000021300 mở tại Ngân hàng B, tài khoản số [...] mở tại ngân hàng S, tài khoản số 0918831296 mở tại Ngân hàng S1 - do bà Võ Thị Ngọc A là chủ tài khoản, cho bà Võ Thị Ngọc A vay tổng cộng 18 lần, với lãi suất từ 0,4%/ngày đến 0,5%/ngày (tương đương 144% đến 180%/năm), số tiền mỗi lần cho vay thấp nhất là 600.000.000 đồng/lần và cao nhất là 8.000.000.000 đồng/lần, tổng số tiền đã cho vay là 59.700.000.000 đồng.
Bà Võ Thị Ngọc A sử dụng các tài khoản ngân hàng nêu trên của mình đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Tôn Nữ Kim K và các tài khoản do K chỉ định để trả tiền nợ gốc, tiền lãi vay với tổng số tiền là 53.652.000.000 đồng, trong đó: tiền nợ gốc 48.900.000.000 đồng, tiền lãi là 4.752.000.000 đồng. Số tiền lãi trên các khoản vay bà Ngọc A trả theo quy định pháp luật là 700.821.918 đồng; Số tiền K đã thu lợi bất chính được từ việc 18 lần cho vay lãi nặng là 4.051.178.082 đồng, trong đó có 14 lần số tiền thu lợi bất chính nhận được trên 30.000.0000 đồng/lần.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Tôn Nữ Kim K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Hiện tổng số tiền nợ gốc bà Ngọc A chưa trả cho bị cáo K là 10.800.000.000 đồng. Ngoài ra, khi vay tiền để làm tin, bà Ngọc A đã ủy quyền cho K được thừa hưởng toàn bộ giá trị căn nhà số E T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi trừ số tiền đã thế chấp căn nhà để vay ngân hàng, theo hợp đồng ủy quyền công chứng 0002477 ngày 06/4/2023 lập tại Văn phòng C, thời hạn ủy quyền 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng ủy quyền. Ngày 18/8/2023, bị cáo K yêu cầu bà Ngọc A viết giấy nhận nợ đối với số tiền chưa trả, tài sản bảo đảm là 03 tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngọc A. Do đang ở nước ngoài nên K nhờ Trần Thị Ngọc L đứng tên trên giấy mượn nợ dùm, L đồng ý. K nói L chụp hình căn cước công dân gửi cho bà Ngọc A để viết giấy nhận nợ. Sau đó bà Ngọc A viết giấy nhận nợ rồi đưa đến cho L. K đã trả lại cho bà Ngọc A 03 tờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. K chỉ nhờ bà L đứng tên trên giấy mượn nợ, ngoài ra bà L không biết về thỏa thuận lãi suất vay giữa K và bà Ngọc A.
Qua điều tra xác định ngoài tài khoản ngân hàng do mình đứng tên, bị cáo K đã sử dụng các tài khoản ngân hàng sau đây để nhận giao dịch cho bà Ngọc A vay và trả lãi vay, gồm: Tài khoản số 19036432026014 mở tại ngân hàng T2, số 1035642869 mở tại ngân hàng V2, số F mở tại ngân hàng M2, số A mở tại ngân hàng B - do Đinh Thanh N3 là chủ tài khoản; Các tài khoản số 19033917652011, số B mở tại ngân hàng T2 - do Trần Thị Ngọc L là chủ tài khoản; Tài khoản số [...] mở tại ngân hàng A1, số A mở tại ngân hàng T2 - do Trần Nhựt M là chủ tài khoản; Tài khoản số 10622266825012 mở tại ngân hàng T2, do bà Đào Thị Hồng L1 là chủ tài khoản; Tài khoản số 31310001616394 mở tại ngân hàng B, do Lê Thị Kim T là chủ tài khoản; Tài khoản số 3797922988 mở tại V2, do Trần Trung Q là chủ tài khoản; Tài khoản số 62010001207539 mở tại ngân hàng B, do Đỗ Thị Tường V là chủ tài khoản; Tài khoản số 19034580235010 mở tại ngân hàng T2, do Đinh Nguyễn Hùng V1 là chủ tài khoản; Tài khoản số 19038257050015, số B mở tại ngân hàng T2, do Nguyễn Tấn P là chủ tài khoản; Tài khoản số 991023030309135 mở tại ngân hàng T2, do Bùi Thị Xuân H là chủ tài khoản; tài khoản số 19026557961021 mở tại ngân hàng T2, do Nguyễn Anh Nghĩa L2 là chủ tài khoản; tài khoản số 19036602956011 mở tại ngân hàng T2, do Hồ Thúy T1 là chủ tài khoản.
Trần Thị Ngọc L em dâu của bị cáo K. L có cho K vay tiền 06 lần, tổng cộng là 8.700.000.000 đồng, với lãi suất 0,15%/ngày, tương đương với 54,75%/năm; theo yêu cầu của K, L chuyển số tiền cho K vay vào tài khoản ngân hàng tên Võ Thị Ngọc A. K nói với L là có làm ăn với bà Ngọc A và nhờ L nhận tiền chuyển khoản từ bà Ngọc A cho K; sau khi nhận được tiền, L trả lại cho K số tiền đã nhận. Khi nhờ L chuyển tiền vào tài khoản bà Ngọc A thì K không nói mục đích và thỏa thuận vay mượn giữa K với bà Ngọc A cho L biết.
Đinh Thanh N3 là con trai của bị cáo K, hiện đang du học tại Mỹ, trước khi đi học N3 không sử dụng các tài khoản tại các ngân hàng do N3 đứng tên, bị cáo K đã sử dụng các tài khoản ngân hàng của N3 để giao dịch cho vay. K sử dụng các tài khoản trên để chuyển và nhận tiền vay với bà Ngọc A thì N3 không biết.
Trần Nhựt M và K là bạn bè quen biết nhau. Ngày 08/3/2023 do tài khoản ngân hàng của K đã vượt hạn mức chuyển tiền trong ngày nên K đã đưa cho bà M 200.000.000 đồng tiền mặt và nhờ bà M chuyển 200.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A. Ngày 29/3/2023, K hỏi mượn bà M 80.000.000 đồng và nhờ M chuyển vào tài khoản của bà Ngọc A. Ngày 31/7/2023, K đưa 213.000.000 đồng tiền mặt và nhờ bà M chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Ngọc A. K không nói mục đích chuyển và việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A cho bà M biết. Bà M cũng không được hưởng lợi ích gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Bà Đào Thị Hồng L1 và K là bạn bè quen biết nhau và có cho vay mượn tiền nhau, cụ thể như sau: Ngày 25/3/2023, K mượn bà L1 số tiền 600.000.000 đồng và chỉ định chuyển vào tài khoản của bà Ngọc A. Sau đó, K đã trả lại tiền mặt cho bà L1. Ngày 29/3/2023, K nói do tài khoản không còn tiền nên nhờ bà L1 chuyển số tiền 900.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A, khoảng 01 giờ sau K đã trả lại số tiền cho bà L1. Ngày 19/7/2023, do số tiền chuyển khoản đã vượt hạn mức trong ngày K nhờ L1 chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A, khoảng 01 giờ sau K đã trả lại số tiền cho bà L1. Bà L1 không lấy lãi hoặc hưởng lợi gì đối với các khoản cho K mượn hoặc K nhờ chuyển khoản và không biết, việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A.
Bà Lê Thị Kim T với K là bạn bè quen biết nhau và lý do tài khoản ngân hàng của bà T có giao dịch với tài khoản ngân hàng của bà Ngọc A, cụ thể như sau: Ngày 09/3/2023, K nhờ bà T chuyển số tiền 700.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A. Ngày 13/3/2023, K đưa 800.000.000 đồng tiền mặt và nhờ T chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Ngọc A. Ngày 29/3/2023, K nhờ T chuyển số tiền 400.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A, sau đó K đã trả tiền mặt lại cho bà T. Bà T không lấy lãi hoặc hưởng lợi gì từ việc K nhờ chuyển tiền và cũng không biết việc cho vay giữa K với bà Ngọc A.
Trần Trung Q quen biết với K, lý do tài khoản ngân hàng của Q có giao dịch với tài khoản ngân hàng của bà Ngọc A, như sau: Ngày 03/3/2023, Q nhờ K tư vấn để mua nhà, biết Q có số tiền 5.000.000.000 đồng tiền mặt, K hỏi mượn Quân số tiền này và Q đồng ý cho K mượn. Cùng ngày bà Ngọc A báo trả cho K số tiền vay 6.000.056.000 đồng, K yêu cầu bà Ngọc A chuyển số tiền 5.000.000.000 đồng vào tài khoản của Q, trả tiền K đã nợ Q. Ngày 06/4/2023, K nhờ Q chuyển 2.500.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A. Sau đó K trả lại tiền mặt cho Q. Ngày 07/4/2023, Q mượn K 1.500.000.000 đồng, K đồng ý. Sau đó, bà Ngọc A báo trả tiền cho K nên K chỉ định bà Ngọc A chuyển số tiền 1.500.000.000 đồng vào tài khoản của Quân số [...] mở tại ngân hàng A1, ngày 08/4/2023 Q đã trả lại số tiền mượn bằng tiền mặt cho K. Ngày 07/8/2023, Q mượn K số tiền 200.000.000 đồng, K đồng ý. Sau đó, bà Ngọc A báo trả tiền nên K chỉ định bà Ngọc A chuyển 200.000.000 đồng vào khoản số 3797922988 của Q mở tại ngân hàng V2. Sau đó, Q trả lại tiền mặt cho K. Các khoản vay mượn giữa Q và K thì hai bên không tính lãi. Ông Q không biết việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A và không được hưởng lợi ích gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Bà Đỗ Thị Tường V với K quen biết nhau và có quan hệ vay mượn như sau: Ngày 06/4/2023, K có nhờ V chuyển 1.300.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A, sau đó K trả lại tiền mặt cho bà V. Ngày 07/4/2023, K có mượn của bà V 800.000.000 đồng tiền mặt, cùng ngày bà Ngọc A báo trả 4.550.000.000 tiền vay, K chỉ định Ngọc A chuyển số tiền 800.000.000 đồng vào tài khoản của V để trả nợ. Các khoản vay mượn tiền giữa bà V và K, hai bên không tính lãi. Bà V không biết việc vay mượn giữa K và bà Ngọc A.
Đinh Nguyễn Hùng V1 và K có quen biết nhau. Ngày 24/6/2023, K đưa 2.000.000.000 đồng tiền mặt và nhờ V1 chuyển vào tài khoản của bà Ngọc A. V1 đồng ý và đã sử dụng tài khoản ngân hàng của V1 chuyển số tiền vào tài khoản của bà Ngọc A và giữ lại tiền mặt K đã đưa cho V1. Ông V1 không biết việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A và không được hưởng lợi gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Nguyễn Tấn P là cháu của một người bạn của K. Ngày 13/3/2023, bà Ngọc A báo trả số tiền vay là 3.127.200.000 đồng. Do có việc, K nhờ P cho mượn tài khoản để nhận tiền và rút tiền mặt ra đưa lại cho K, P đồng ý. K chỉ định Ngọc A chuyển vào tài khoản của P, sau đó P đã đưa lại tiền mặt cho K số tiền trên. Ngày 29/3/2023, K đưa cho P số tiền 310.000.000 đồng nhờ chuyển tiền vào tài khoản số [...] mở tại ngân hàng S của bà Ngọc A. P đồng ý, nhận tiền mặt và sử dụng tài khoản của mình chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Ngọc A theo chỉ định của K. Ngày 07/4/2023, K đưa 1.500.000.000 đồng tiền mặt nhờ P chuyển vào tài khoản số 31710000021300 mở tại B của bà Ngọc A. P đồng ý và sử dụng tài khoản số 19038257050015 mở tại T2 chuyển tiền cho bà Ngọc A số tiền trên. Ngày 31/07/2023, K đưa 387.000.000 đồng tiền mặt và nhờ P chuyển vào tài khoản số 31710000021300 mở tại B của bà Ngọc A. P đồng ý và sử dụng tài khoản số 19038257050015 mở tại T2 chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Ngọc A. P không biết việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A và không được hưởng lợi ích gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Bùi Thị Xuân H là bạn bè, hàng xóm với bị cáo K. Ngày 03/3/2023, K đưa 2.000.000.000 đồng tiền mặt và nhờ bà H chuyển vào tài khoản số 31710000021300 mở tại ngân hàng B của bà Ngọc A. Bà H đồng ý lấy tiền mặt của K và sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển khoản số tiền 2.000.000.000 đồng vào tài khoản của bà Ngọc A. Bà H không biết việc vay mượn giữa K với bà Ngọc A và không được hưởng lợi ích gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Nguyễn Anh N4 có quen biết với K. Ngày 09/6/2023, bà Ngọc A báo trả số tiền vay 1.400.000.000 đồng, K chỉ định chuyển 300.000.000 đồng vào tài khoản số 19026557961021 mở tại ngân hàng T2 của N4 để nhờ N4 đi mua đồ cho K. Ông N4 không biết việc vay mượn giữa K và bà Ngọc A và không được hưởng lợi ích gì từ việc K nhờ chuyển tiền.
Hồ Thúy T1 có quen biết với K, ngày 31/7/2023, K có nhờ T1 chuyển số tiền 900.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng B của Ngọc A và K đã trả lại tiền mặt cho T1. T1 không lấy lãi số tiền đã cho K mượn và không biết về việc cho vay giữa K với Ngọc A.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra bà Ngọc A khai nhận việc vay tiền của bị cáo K như trên. Khi vay mượn tiền bà Ngọc A chỉ liên hệ, thỏa thuận với K, việc chuyển trả tiền vay và lãi suất vào tài khoản ngân hàng nào là theo chỉ định của bị cáo K. Bà Ngọc A không quen biết với Đinh Thành N5, Trần Nhật M1, Đào Thị Hồng L1, Lê Thị Kim T, Nguyễn Tấn P, Đinh Nguyễn Hùng V1, Trần Trung Q, Đỗ Thị Tường V, Nguyễn Anh N4, Hồ Thúy T1. Giữa bà Ngọc A và bà Trần Thị Ngọc L không có vay mượn nợ; ngày 18/8/2023 theo yêu cầu của K, bà Ngọc A đã viết giấy nhận nợ số tiền 10.8000.000.000 đồng với bà Trần Thị Ngọc L, thực chất đây là tiền vay mượn giữa K và bà Ngọc A.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Ngọc L khai nhận, ngày 18/8/2023 K điện thoại cho L nói bà Ngọc A còn thiếu nợ K và viết giấy nhận nợ, nhưng do K đang ở nước ngoài nên nhờ L đứng tên hộ. K nói L chụp căn cước công dân gửi cho bà Ngọc A để làm giấy nhận nợ. L đồng ý. Sau đó có một người phụ nữ đưa 02 tờ giấy nhận nợ của bà Ngọc A đến nhà cho L. Khi K nhờ chuyển số tiền đã vay của L cho bà Ngọc A và nhờ L đứng tên trên giấy nhận nợ thì K không nói mục đích chuyển, thỏa thuận vay mượn giữa K và Ngọc A cho L biết.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Nhật M1, Đào Thị Hồng L1, Lê Thị Kim T, Nguyễn Tấn P, Đinh Nguyễn Hùng V1, Trần Trung Q, Đỗ Thị Tường V, Nguyễn Anh N4, Hồ Thúy T1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo K. Khi cho K mượn tiền, chuyển và nhận tiền hộ cho K thì không tính lãi và không được hưởng lợi ích gì từ việc chuyển tiền hộ cho K, không biết việc vay mượn tiền giữa K với bà Ngọc A.
Kết quả xác minh tại Cục Q1, Đinh Thanh N3 - sinh ngày 23/10/2005, căn cước công dân số [...], đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 04/8/2023, chưa có thông tin nhập cảnh.
Tài sản vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax; Imei: 351465644935694, là tài sản của bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 Hợp đồng ủy quyền công chứng số 0002477 ngày 06/4/2023 lập tại Văn phòng C giữa ông Võ Văn H1, bà Võ Thị Ngọc A với Tôn Nữ Kim K. (Lưu hồ sơ vụ án)
- 02 Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/8/2023 giữa bà Võ Thị Ngọc A với Trần Thị Ngọc L. (Lưu hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự: Bà Võ Thị Ngọc A yêu cầu được nhận lại số tiền lãi vượt quá theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 95/CT-VKSQ10 ngày 03 tháng 07 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Tôn Nữ Kim K về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận có cho bà Võ Thị Ngọc A vay tổng cộng 59.700.000.000 đồng, bà A đã trả được 53.652.000.000 đồng (trong đó nợ gốc là 48.900.000.000 đồng, tiền lãi cho phép theo quy định là 700.821.918 đồng, tiền lãi thu vượt quá quy định (tiền thu lợi bất chính) là 4.051.178.082 đồng).
Về dân sự: Bị cáo Tôn Nữ Kim K không yêu cầu bà Võ Thị Ngọc A trả số tiền gốc đã vay còn lại là 10.800.000.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng, cha của bị cáo là thương binh 4/4, bị cáo có nhiều đóng góp cho quỹ thương binh liệt sĩ ở Quận A, bị cáo hiện đang bị bệnh viêm phù nề, sung huyết dạ dày), tình tiết tăng nặng (phạm tội 02 lần trở lên) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Tôn Nữ Kim Khánh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, phạt bổ sung từ 50.000.000 đến 70.000.000 đồng, tịch thu tiền gốc và tiền lãi cho phép theo quy định để sung quỹ nhà nước, trả lại cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền lãi vượt quá quy định là 4.051.178.082 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận 10 Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Tôn Nữ Kim K đã có hành vi cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính số tiền 4.051.178.082 đồng. Do vậy, bị cáo Tôn Nữ Kim K bị truy tố và xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến trật tự quản lý tín dụng của nhà nước và lợi ích vật chất của người đi vay mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm bằng luật hình.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng, cha bị cáo là thương binh 4/4; bản thân bị cáo có nhiều đóng góp cho quỹ nghĩa tình chăm lo cho cựu chiến binh tại Quận A được Ủy ban nhân dân Quận A2 gửi thư cảm ơn, bị cáo hiện đang bệnh viêm phù nề, sung huyết dạ dày. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự. Trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt các quy định thể hiện khả năng tự cải tạo, do đó xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ để tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước.
[4] Đối với Trần Thị Ngọc L được K nhờ chuyển tiền, ký tên trên giấy vay mượn không biết mục đích chuyển tiền, lãi suất vay giữa K và bà Ngọc A nên hành vi không cấu thành phạm tội. Đối với hành vi cho Tôn Nữ Kim K vay với lãi suất 0,15%/ngày, tương đương với 54,75%/ năm, cao gấp 2,73 lần lãi suất quy định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển Cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với Đinh Thanh N3, Trần Nhật M1, Đào Thị Hồng L1, Lê Thị Kim T, Nguyễn Tấn P, Đinh Nguyễn Hùng V1, Trần Trung Q, Đỗ Thị Tường V, Bùi Thị Xuân H, Nguyễn Anh N4, Hồ Thúy T1 không biết Tôn Nữ Kim K sử dụng tài khoản vào việc phạm tội, không biết K nhờ chuyển tiền cho bà Ngọc A vay, không biết việc vay mượn tiền giữa K với bà Ngọc A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không truy cứu trách nhiệm hình sự, là có cơ sở.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Tôn Nữ Kim K không yêu cầu bà Võ Thị Ngọc A trả số tiền gốc đã vay còn lại là 10.800.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 ProMax; Imei: 351465644935694, là tài sản của bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội.
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- + 01 Hợp đồng ủy quyền công chứng số 0002477 ngày 06/4/2023 lập tại Văn phòng C giữa ông Võ Văn H1, bà Võ Thị Ngọc A với Với Tôn Nữ Kim K.
- + 02 Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/8/2023 giữa bà Võ Thị Ngọc A với Trần Thị Ngọc L.
Đối với số tiền 59.700.000.000 đồng mà bị cáo cho bà Võ Thị Ngọc A vay mượn. Bà Ngọc A đã trả cho bị cáo số tiền 48.900.000.000 đồng, bà Ngọc A hiện còn nợ bị cáo số tiền 10.800.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền bị cáo sử dụng là phương tiện phạm tội. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Võ Thị Ngọc A phải có trách nhiệm giao nộp lại số tiền 10.800.000.000 đồng.
Đối với số tiền lãi trong hạn cho phép của Bộ luật dân sự là 700.821.918 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền do phạm tội mà có nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Tôn Nữ Kim K phải có trách nhiệm giao nộp lại số tiền 700.821.918 đồng.
Đối với số tiền 4.051.178.082 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu của bà Võ Thị Ngọc A. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo Tôn Nữ Kim K phải trả lại cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền 4.051.178.082 đồng.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sungnăm 2017);
Xử phạt Tôn Nữ Kim K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Giao bị cáo Tôn Nữ Kim K cho Ủy ban nhân dân Phường A3, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
Phạt bổ sung bị cáo Tôn Nữ Kim K số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng nộp Ngân sách nhà nước;
(Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 ProMax; Imei: 351465644935694
Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- + 01 Hợp đồng ủy quyền công chứng số 0002477 ngày 06/4/2023 lập tại Văn phòng C giữa ông Võ Văn H1, bà Võ Thị Ngọc A với bị cáo Tôn Nữ Kim K.
- + 02 Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/8/2023 giữa bà Võ Thị Ngọc A với Trần Thị Ngọc L.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 49.600.821.918 (bốn mươi chín tỷ sáu trăm triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười tám) đồng, trong đó tiền vốn bị cáo K cho bà Ngọc A vay là 48.900.000.000 (bốn mươi tám tỷ chín trăm triệu) đồng và tiền lãi trong hạn cho phép của Bộ luật Dân sự là 700.821.918 (bảy trăm triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười tám) đồng. Buộc bị cáo K có trách nhiệm giao nộp lại.
Tịch thu sung công nhà nước số tiền 10.800.000.000 (mười tỷ tám trăm triệu) đồng. Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Võ Thị Ngọc A có trách nhiệm giao nộp lại.
Buộc bị cáo Tôn Nữ Kim K có trách nhiệm trả lại cho bà Võ Thị Ngọc A số tiền 4.051.178.082 (bốn tỷ không trăm năm mươi mốt triệu một trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai) đồng.
Buộc bị cáo Tôn Nữ Kim K chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tôn Nữ Kim P phạm tội cho vay nặng lãi
