Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-9-2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Phi Hùng
    • Ông Nguyễn Văn Chính
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Quách Văn T; Sinh năm: 1989 (Có mặt);
  2. Địa chỉ: Khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau;

  3. Bị đơn: Chị Lê Ngọc M; Sinh năm: 1993 (Có mặt);
  4. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Quách Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T và chị M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/11/2017. Qúa trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không thể kéo dài nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị M.

Về con chung: Có 01 con chung tên Quách Lê Gia P – sinh ngày 01/02/2018 hiện đang sống với chị M. Khi ly hôn anh T tự nguyện giao cháu P cho chị M được tiếp tục nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Lê Ngọc M Trình bày:

Chị M thống nhất với lời trình bày của anh T về các vấn đề hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên chị M cũng đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Quách Lê Gia P – sinh ngày 01/02/2018 hiện đang sống với chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P1, chị M yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Chị M không thống nhất việc ly hôn. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì chị M yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Các vấn đề khác bảo lưu quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý hòa giải đoàn tụ và thống nhất mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng theo yêu cầu của chị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Quách Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là chị Lê Ngọc M. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Chị M có nơi cư trú tại 6, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Anh T và chị M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/11/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được nữa. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cha mẹ hai bên có hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả nên anh chị đã ly thân khoảng 03 năm nay. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh chị đều không muốn đoàn tụ và thống nhất ly hôn. Tại phiên tòa, anh Thai V cương quyết ly hôn còn chị M không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp nào khả thi để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T được ly hôn với chị M.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Quách Lê Gia P – sinh ngày 01/02/2018 hiện đang sống với chị M. Quá trình giải quyết vụ án chị M có yêu cầu nuôi con sau ly hôn và anh T cũng tự nguyện giao con chung cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng nên cần giao cháu P cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, các bên tự nguyện thỏa thuận mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng nên cần ghi nhận.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Anh T và chị M không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do anh T đã dự nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Quách Văn T về việc ly hôn với chị Lê Ngọc M.
  2. Về hôn nhân: anh Quách Văn T được ly hôn với chị Lê Ngọc M.

    Về con chung: Giao cháu Quách Lê Gia P – sinh ngày 01/02/2018 cho chị M được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.5 00.000 đồng/tháng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi.

    Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: anh Quách Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng số tiền 300.000 đồng. Tổng cộng là 600.000 đồng. Ngày 28/6/2024 anh T có dự nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016316 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ, còn lại phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
  4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - UBND xã Tân Lộc Bắc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 140/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger