|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HS - ST Ngày: 27/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Hải Phùng |
| Ông Nguyễn Phan Anh | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Trần Phương Ly |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Phúc Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/HSST ngày 25/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/HSST-QĐ ngày 14/5/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:
Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu K, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con cả; Vợ, con: Chưa có; D chỉ bản số 851 lập ngày 28/12/2023 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiên án, tiên sự: 01 tiền án; Ngày 24/5/2022 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 22 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2023 (chưa xóa án tích). Nhân thân: Ngày 29/01/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2019 (đã xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H. ( Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bị hại: Anh Trần Hữu T1, sinh năm 1995.
Nơi ĐKHKTT: 85 D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đoàn Phú H1, sinh năm 1988. HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1986. HKTT: Tổ B, phường M, quận C, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Thành A, sinh 1978. HKTT: Tổ dân phố Đ, phường T, quận B, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Anh Lại Tuấn V, sinh năm 1991. HKTT: Tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/12/2023, anh Trần Hữu T1 (sinh năm 1995, trú tại số E ngách B ngõ A Q, phường N, quận T, Hà Nội – đại diện cửa hàng Đ số A N, phường N, quận Đ, Hà Nội) đến Công an phường N trình báo về việc sáng ngày 13/12/2023, anh T1 đến cửa hàng điện thoại số A N, phường N để làm việc thì phát hiện trong cửa hàng bị mất trộm tài sản. Qua kiểm tra hệ thống camera trong cửa hàng, anh T1 phát hiện khoảng 03 giờ 45 phút ngày 13/12/2023 có một đối tượng nam giới đã vào cửa hàng lấy trộm tài sản.
Tài sản bị chiếm đoạt bao gồm:
- - 54 chiếc điện thoại Iphone các loại, cụ thể: 01 Iphone 7; 01 Iphone 7Plus; 03 Iphone XS; 01 Iphone XS Max; 02 Iphone 11 Pro; 05 Iphone 11 Pro Max; 02 Iphone 12 Pro; 12 Iphone 12 Pro Max; 05 Iphone 13; 05 Iphone 13 Pro Max; 04 Iphone 14 và 13 I Pro M.
- - Số tiền 30.000.000 đồng.
- - 01 chiếc túi xách kẻ caro màu nâu và 01 chiếc ga giường màu xanh.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 18/12/2023 Cơ quan điều tra đã Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu T. Đến 00 giờ 10 phút cùng ngày (18/12/2023), Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu T tại phòng trọ số G số nhà H ngõ C phố T, phường N, quận Đ, Hà Nội. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:
- - 48 (bốn mươi tám) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone các loại.
- - 01 chiếc quần đùi màu đen; 01 áo cộc tay không cổ màu đen; 01 mũ trùm mặt bằng vải màu đen; 01 đôi tất màu đen.
- - 01 chiếc ga trải giường màu xanh; 01 chiếc túi xách kẻ caro màu nâu.
- - 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 15 mét.
- - 01 chiếc kìm cộng lực màu đỏ đen.
- - 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP Pavilion 15inch ram8Gb, màu bạc.
- - 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen.
- - 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen.
- - 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 corei5 ram8Gb, màu bạc;
- - 01 điện thoại đen trắng nhãn hiệu Nokia.
- - 01 máy tính bảng PIPO W10.
- - Số tiền 10.000.000 đồng T tự nguyện giao nộp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 318/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ, kết luận:
- - 54 chiếc điện thoại Iphone các loại, đã qua sử dụng (trong đó 52 chiếc đã thu hồi và 02 chưa thu hồi), tổng định giá 363.874.500 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 316/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ, kết luận:
- - 01 chiếc ga giường màu xanh, kích thước khoảng 2x1,8m đã qua sử, đã thu hồi định giá 85.000 đồng.
- - 01 chiếc túi xách kẻ caro màu nâu, không rõ nhãn hiệu, kích thước khoảng 06x25x20cm, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 300.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hữu T khai nhận: Tối ngày 12/12/2023, T thuê phòng 604 tầng 6 ở nhà nghỉ T4 (địa chỉ số C ngõ E phố T, phường N, Đ, Hà Nội). Do thiếu tiền tiêu nên T nảy sinh ý định đột nhập vào nhà dân xung quanh để trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, T đội mũ trùm mặt và mang theo dây dù trèo qua cửa phòng 604 ra ngoài rồi đi bộ trên mái của các nhà dân để đi tìm nhà nào không khóa cửa trên Tum thì đột nhập vào lấy tài sản. Đến khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày (13/12/2023), T phát hiện cửa Tum của cửa hàng Đ số A N, phường N, quận Đ, Hà Nội không khóa. T mở cửa vào trong và đi xuống các tầng kiểm tra. T phát hiện tầng 3 phòng sửa chữa điện thoại không khóa cửa, T đi vào phát hiện trên giường có khoảng 10 chiếc điện thoại Iphone các loại. T tiếp tục xuống khu vực tầng 01 phát hiện trên kệ có rất nhiều điện thoại nhãn hiệu Iphone các loại. T tiếp tục mở ngăn kéo quầy thu ngân phát hiện có tiền Việt Nam đồng. Thấy vây, T lấy tất cả số điện thoại ở tầng 01 cho vào một thùng xốp (có sẵn ở tầng 01) và lấy tiền trong ngăn kéo rồi mang lên tầng 02. T tiếp tục lên phòng sửa chữa tầng 03 lấy khoảng 10 chiếc điện thoại Iphone các loại mang tầng 02 cho vào thùng xốp. Sau đó, T đi lên sân thượng lấy một chiếc ga trải giường màu xanh, mang xuống tầng 02 bọc tất cả những điện thoại Iphone các loại rồi vác lên tầng thượng. Do bọc có kích thước lớn nên T đi xuống tầng 04 lấy được 01 chiếc túi xách kẻ caro, màu nâu mang lên tầng thượng rồi cho tất cả những chiếc điện thoại Iphone các loại và chiếc ga giường vào chiếc túi xách. T khoác túi xách lên người đi ra bằng đường đã vào nhưng không ra được nên đã kiểm tra xung quanh thì thấy có một ô cửa sắt phía trước của hàng không khóa. T mở ô cửa này, vác theo túi xách ra ngoài rồi về phòng 604 nhà nghỉ T4. Tại đây, T mở túi xách ra kiểm tra thì đếm được có 54 chiếc điện thoại Iphone các loại và số tiền 30.000.000 đồng. T cất giấu 54 điện thoại Iphone các loại trong phòng nhà nghỉ rồi ra quán N và lên mạng tìm thuê một phòng trọ mới.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, T mang chiếc Iphone 11 Pro Max màu trắng đến cửa hàng điện thoại số B Cầu G, phường Q, quận C, Hà Nội bán cho Lại Tuấn V (sinh năm 1991, trú tại Tổ A, phường K, quận H, Hà Nội) với giá 6.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày (14/12/2023), T mang chiếc Iphone 11 Pro Max màu xanh đến cửa hàng điện thoại số C Cầu G, phường D, quận C, Hà Nội bán cho Nguyễn Thành A (sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố Đ, phường T, quận B, Hà Nội) với giá 6.000.000 đồng. Quá trình mua bán điện thoại V, A không biết tài sản do T phạm tội mà có.
Đến sáng ngày 15/12/2023, T về nhà nghỉ T4 trả phòng, mang theo chiếc túi xách chứa những điện thoại Iphone các loại đến phòng trọ mới tại phòng 703 số nhà H ngõ C phố T, phường N, quận Đ, Hà Nội cất giấu.
Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, T mang chiếc điện Iphone 13 Pro Max màu xanh đến cửa hàng điện thoại số D Hồ T, phường M, quận C, Hà Nội bán cho Trịnh Văn S (sinh năm 1986, trú tại Tổ A, phường M, quận C, Hà Nội) với giá 12.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày (15/12/2023), T mang chiếc Iphone 13 Pro Max màu vàng đến cửa hàng điện thoại số I X, phường D, quận C, Hà Nội bán cho Đoàn Phú H1 (sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Hà Nội) với giá 12.000.000 đồng. Quá trình mua bán điện thoại S, H1 không biết tài sản do T phạm tội mà có.
Đến chiều cùng ngày (15/12/2023) tại khu vực nhà số D T, phường N, quận Đ, Hà Nội, T bán cho một người bạn xã hội tên T2 (không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max với giá 8.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max với giá 10.000.000 đồng.
Ngày 18/12/2023 Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đoàn Phú H1 01 chiếc Iphone 13 Pro Max màu vàng; của Trịnh Văn S 01 chiếc điện Iphone 13 Pro Max màu xanh; của Lại T3 Vũ 01 chiếc Iphone 11 Pro Max màu trắng; của Nguyễn Thành A 01 chiếc Iphone 11 Pro Max màu xanh.
Ngày 27/12/2023 Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Trần Hữu T1 01 chiếc ga trải giường màu xanh; 01 chiếc túi xách kẻ caro màu nâu; số tiền 10.000.000 đồng và 52 chiếc điện thoại Iphone các loại, anh T1 đã nhận đầy đủ số tài sản trên.
Ngày 02/4/2024 đại diện gia đình bị can Nguyễn Hữu T đã bồi thường cho anh Trần Hữu T1 số tiền 30.000.000 đồng, anh T1 đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can T.
Đối với Đoàn Phú H1, Trịnh Văn S, Lại Tuấn V, Nguyễn Thành A là những người mua những chiếc điện thoại của T nhưng không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Anh H1, anh S yêu cầu T hoàn trả số tiền 12.000.000 đồng; anh V, anh A yêu cầu T hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng. Đây là số tiền anh H1, anh S, anh V, anh A mua điện thoại của T.
Đối với 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP Pavilion 15inch ram8Gb, màu bạc; 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 corei5 ram8Gb, màu bạc; 01 máy tính bảng PIPO W10 và 01 chiếc kìm cộng lực màu đỏ đen. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hữu T khai nhận: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 12/11/2023 T mang theo kìm cộng lực màu đỏ đen đột nhập vào nhà số A M, hường T, quận C, Hà Nội lấy trộm 07 chiếc máy tính nhãn hiệu Dell (trong đó có 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 corei5 ram8Gb, màu bạc). Đến khoảng 02 giờ 40 phút ngày 03/12/2023 T dùng kìm cộng lực màu đỏ đen đột nhập vào nhà số A ngách A ngõ A T, phường T, quận C, Hà Nội lấy trộm 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP Pavilion 15inch ram8Gb, màu bạc; 01 máy tính bảng PIPO W10 và số tiền 1.000.000 đồng. Ngày 25/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1824/QĐ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen và 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen. T khai nhận: Khoảng tháng 12/2023 T vào trang mạng Internet chuyên bán máy tính cũ và mua 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen và 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen để sử dụng chơi điện tử.
Đối với 01 chiếc quần đùi màu đen; 01 áo cộc tay không cổ màu đen; 01 mũ trùm mặt bằng vải màu đen; 01 đôi tất màu đen, 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 15 mét, 01 điện thoại đen trắng nhãn hiệu Nokia là những trang phục và công cụ, phương tiện T thực hiện hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 117/CT-VKSĐĐ ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điêu 173 Bộ luật hình sự.
Trước khi mở phiên toà:
- - Bị cáo trình bày trong đơn xin xét xử vắng mặt đã nhận được Quyết định đưa vụ án xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như tại Cơ quan điều tra và đồng ý với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo T thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- - Bị hại là anh Trần Hữu T1 đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thành A có đơn đề nghị không yêu cầu bồi thường về dân sự đối với bị cáo T, anh Đoàn Phú H1, anh Trịnh Văn S yêu cầu bị cáo T hoàn trả số tiền 12.000.000 đồng, anh Lại Tuấn V yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 11 năm đến 12 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điêu 47 Bộ luật Hình sự; Điêu 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen và 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc quân đùi màu đen; 01 áo cộc tay không cổ màu đen; 01 mũ trùm mặt bằng vải màu đen; 01 đôi tất màu đen, 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 15 mét là công cụ là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại đen trắng nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo T phải bồi thường cho anh Đoàn Phú H1, anh Trịnh Văn S mỗi người 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Lại T3 V số tiền 6.000.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điêu tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại. Căn cứ vào kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Nguyễn Hữu T có hành vi lén lút đột nhập vào cửa hàng điện thoại của anh Trần Hữu T1 tại số A N, phường N, quận Đ, Hà Nội trộm cắp 54 chiếc điện thoại Iphone các loại, đã qua sử dụng, có trị giá 363.874.500 đồng; 01 chiếc ga giường màu xanh, có trị giá 85.000 đồng; 01 chiếc túi xách kẻ caro màu nâu có trị giá 300.000 đồng và số tiền 30.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Hữu T chiếm đoạt là 394.259.500 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điêu 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật đây đủ, song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyên sở hữu tài sản của người khác, vì động cơ tư lợi muốn có tiên tiêu sài, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử 02 lân, trong đó có 01 lân bị đưa ra xét xử về tội “ trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo đã trộm cắp nhiều tài sản với tổng giá trị tài sản lớn, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng phòng, chống tội phạm chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định hình phạt.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điêu 51 BLHS, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại anh Trần Hữu T1, anh T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích, lân phạm tội này của bị cáo là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điêu 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điêu 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen và 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen thu giữ của bị cáo, xét đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 chiếc quân đùi màu đen; 01 áo cộc tay không cổ màu đen; 01 mũ trùm mặt bằng vải màu đen; 01 đôi tất màu đen, 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 15 mét là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 điện thoại đen trắng nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cân tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hữu T đã bồi thường cho người bị hại là anh Trần Hữu T1 số tiền 30.000.000 đồng, anh T1 đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bị cáo T phải bồi thường cho anh Đoàn Phú H1, anh Trịnh Văn S mỗi người 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Lại T3 V số tiền 6.000.000 đồng.
[7] Các vấn đề khác:
- - Đối với Đoàn Phú H1, Trịnh Văn S, Lại Tuấn V, Nguyễn Thành A là những người mua những chiếc điện thoại của T nhưng không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP Pavilion 15inch ram8Gb, màu bạc; 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 corei5 ram8Gb, màu bạc; 01 máy tính bảng PIPO W10 và 01 chiếc kìm cộng lực màu đỏ đen. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hữu T khai nhận: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 12/11/2023 T mang theo kìm cộng lực màu đỏ đen đột nhập vào nhà số A M, hường T, quận C, Hà Nội lấy trộm 07 chiếc máy tính nhãn hiệu Dell (trong đó có 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 corei5 ram8Gb, màu bạc). Đến khoảng 02 giờ 40 phút ngày 03/12/2023 T dùng kìm cộng lực màu đỏ đen đột nhập vào nhà số A ngách A ngõ A T, phường T, quận C, Hà Nội lấy trộm 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP Pavilion 15inch ram8Gb, màu bạc; 01 máy tính bảng PIPO W10 và số tiền 1.000.000 đồng. Ngày 25/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1824/QĐ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C để điều tra theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điêu 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điêu 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu T 11( mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điêu 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo E43 14,1inch màu đen và 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Lenovo IdeaPad 110-15ISK, màu đen.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc quân đùi màu đen; 1 áo cộc tay không cổ màu đen; 01 mũ trùm mặt bằng vải màu đen; 01 đôi tất màu đen, 01 đoạn dây dù màu xanh dài khoảng 15 mét.
- - Tịch thu sung công Quỹ Nhà nước 01 điện thoại đen trắng nhãn hiệu Nokia.
Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 187 ngày 03/5/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điêu 48 Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải bồi thường cho anh Đoàn Phú H1 số tiền 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Trịnh Văn S số tiền 12.000.000 đồng, bồi thường cho anh Lại T3 V số tiền 6.000.000 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyên có đơn yêu câu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Hữu T chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi suất đối với số tiên chậm trả theo quy định tại các Điêu 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điêu 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điêu 135, Điêu 136, Điêu 331, Điêu 333, Điêu 336, Điêu 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng (Chín trăm nghìn ) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Thanh Tùng |
Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- - TAND thành phố Hà Nội;
- - VKSND quận Đống Đa;
- - Công an quận Đống Đa;
- - Chi cục THADS quận Đống Đa;
- - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
- - Lưu HS.
Bản án số 140/2024/HS - ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
