|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 140/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Văn Khẹt.
Ông Đoàn Quang Mạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn H, sinh ngày 01/01/2001, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn K, sinh năm 1982, con bà Quàng Thị X, sinh năm 1980; vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Tòng Văn C, sinh ngày 20/10/2001, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn T, sinh năm 1983, con bà Cà Thị H1, sinh năm 1979; vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lò Văn V, sinh ngày 18/5/2002, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N, sinh năm 1980, con bà Quàng Thị Q, sinh năm 1981; vợ con
chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lò Văn D, sinh ngày 02/6/1994, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Hin Ban, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: La Ha; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H2, sinh năm 1967, con bà Lò Thị Đ, sinh năm 1972; vợ con chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 02/11/2021 của TAND quận Cầu Giấy, Thành phố Hà nội về Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; Nhân thân: Tại bản án số 03/2020/HSST ngày 15/01/2020 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lò Văn T1, sinh ngày 02/01/2005, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Hin Ban, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N1, sinh năm 1974, con bà Lò Thị B, sinh năm 1972; vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lò Văn N1, sinh năm 1974, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Bà Quàng Thị Q, sinh năm 1981, địa chỉ: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
Lò Hồng H3, địa chỉ: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Cầm Văn H4, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Cà Văn D1, địa chỉ: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Cà Văn N2, địa chỉ: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Cà Thanh D2, địa chỉ: Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Quàng Văn H, Tòng Văn C, Lò Văn V, Lò Văn D và Lò Văn T1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, tại khu vực tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn D, sinh ngày 02/6/1994 và Lò Văn T1, sinh ngày 02/01/2005, đều địa chỉ: ở Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ:
01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa bột màu trắng Lò Văn D lấy trong túi quần bên trái đang mặc tự giác giao nộp. Lò Văn D và Lò Văn T1 khai là H5 để sử dụng vừa mua của Quàng Văn H, sinh ngày 01/01/2001, ở tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La với giá 100.000, đồng, do chưa có tiền đã cắm lại điện thoại của Lò Văn D;
01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S không biển kiểm soát, thu giữ của Lò Văn T1;
01 chiếc điện thoại di động Redmi 6A, màn hình cảm ứng, màu đen, mặt lưng nhựa màu vàng, trên máy có nhiều vết xước, tại mép phải phía trên màn hình có vết nứt vỡ, cũ qua sử dụng. Thu giữ của Quàng Văn H, Quàng Văn H khai là điện thoại của Lò Văn D và Lò Văn T1 mua bán ma túy với giá 100.000, đồng chưa có tiền cắm lại.
01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh bạc, biển kiểm soát 26L1-186.75, thu giữ của Lò Văn V;
Ngày 31/01/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Lò Văn D và Lò Văn T1 tự giác giao nộp: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa bột màu trắng khối lượng 0,11 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu DT;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu DT là ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,05 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn D và Lò Văn T1 không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Quàng Văn H khai nhận:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/01/2024 Quàng Văn H mượn xe máy của Lò Hồng H3, địa chỉ: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, đang đi trên đường ở tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La gặp Lò Văn D và Lò Văn T1 đèo nhau bằng xe máy. Lò Văn D và Lò Văn T1 rủ góp tiền đi mua ma túy sử dụng, hai người nhất trí, Lò Văn D đưa cho Quàng Văn H 100.000, đồng nhờ mua hộ ma
túy. Sau đó Quàng Văn H đi tìm mua nhưng không được về trả xe cho Lò Hồng H3. Sau đó đi bộ ra cầu B, xã M, huyện M gặp Lò Văn V ở bản T, xã M. Cầm Văn Học ở bản H, xã M và Tòng Văn C ở tiểu khu B, xã M. Quàng Văn H rủ mọi người góp tiền mua ma túy để sử dụng. Tòng Văn C góp 100.000, đồng. Lò Văn V góp 200.000, đồng. Sau khi có tiền Quàng Văn H bảo mọi người về nhà của Quàng Văn H chờ để sử dụng ma túy, còn Lò Văn V chở Quàng Văn H đi mua ma túy. Trên đường đi thấy Lò Văn D và Lò Văn T1, Quàng Văn H bảo hai người về nhà Quàng Văn H chờ đê sử dụng ma túy. Lò Văn V chở Quàng Văn H đến khu vực đường B, xã T, huyện M gặp mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với số tiền 400.000, đồng.
Về đến nhà Quàng Văn H đem số ma túy ra chia theo phần đóng góp cho Lò Văn D, Lò Văn T1, Tòng Văn C và Lò Văn V và giữ lại một phần. Lúc này trong nhà Quàng Văn H có Lò Văn D, Lò Văn T1, Lò Văn V, Tòng Văn C, Cầm Văn H6, sinh ngày 18/12/2006 (tính đến thời điểm 30/01/2024 là 17 tuổi 01 tháng 23 ngày), Lò Hồng H3 và một người bạn tên Q1.
Khi có ma túy Lò Văn D, Lò Văn T1 chia nhau và Lò Văn D hỏi xin Quàng Văn H sử dụng luôn, Quàng Văn H nghe thấy và không nói gì. Hai người vào góc nhà tự mỗi người sử dụng (chích). Sử dụng xong hai người đi về, trên đường về hai người bàn nhau góp mỗi người 50.000, đồng mua ma túy để sử dụng. Hai người quay lại nhà Quàng Văn H hỏi mua ma túy 100.000, đồng và cắm lại điện thoại của Lò Văn D cho Quàng Văn H giữ, sẽ đến trả tiền mỗi người 50.000, đồng lấy lại sau. Quàng Văn H nhất trí giữ điện thoại và đưa cho Lò Văn D 01 gói nilon màu trắng bên trong ma túy. Hai người đi về đến khu vực tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.
Những người còn lại Quàng Văn H nói với mọi người là chơi chung đi (sử dụng ma túy). Quàng Văn H, Lò Văn V, Tòng Văn C cùng góp ma túy cho mọi người cùng sử dụng. Lúc này có Quàng Văn H, Lò Văn V, Tòng Văn C, Cầm Văn H6, Lò Hồng H3 và một người bạn tên Q1 sử dụng ma túy (đốt hít vào cơ thể).
Một lúc sau có Cà Văn D1, sinh ngày 25/8/2007 (tính đến thời điểm 30/01/2024 là 16 tuổi 5 tháng 06 ngày) và Cà Văn N2 đều ở bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La cùng Cà Thanh D2 ở tiểu khu B, xã M, huyện M đến. Quàng Văn H đưa số ma túy còn lại cho ba người sử dụng (đốt hít vào cơ thể).
Về nguồn gốc số ma túy:
Quàng Văn H khai được một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 400.000, đồng. Sau khi có được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Quàng Văn H.
Đối với Cầm Văn H6, Lò Hồng H3, Cà Văn D1, Cà Văn N2, Cà Thanh D2 là những người được sử dụng ma túy tại nhà của Quàng Văn H, được xác định đều không góp tiền hay cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, đều không có tiền án, tiền sự. Khối lượng ma túy không thu giữ được nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính. Riêng Cà Thanh D2 lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo:
Quàng Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Lò Văn V, Tòng Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS-ML ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo:
Quàng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Lò Văn V, Tòng Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Lò Văn D, Lò Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 256; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Quàng Văn H từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt Quàng Văn H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt Quàng Văn H 24 đến 30 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt ba tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn V, Tòng Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn V từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
Xử phạt Tòng Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D, Lò Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn D từ 16 đến 24 tháng tù;
Xử phạt Lò Văn T1 từ 14 đến 20 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 0,06 gam Heroine (được niêm phong)
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước 01 chiếc điện thoại di động Redmi 6A, màn hình cảm ứng, màu đen, mặt lưng nhựa màu vàng, trên máy có nhiều vết xước, tại mép phải phía trên màn hình có vết nứt vỡ, cũ qua sử dụng. Thu giữ của Quàng Văn H, Quàng Văn H khai là điện thoại của Lò Văn D do dùng mua bán ma túy mà có.
Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội:
Ông Lò Văn N1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S không biển kiểm soát, thu giữ của Lò Văn T1;
Bà Quàng Thị Q 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu xanh bạc, biển kiểm soát 26L1-186.75, thu giữ của Lò Văn V.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1]. Xét hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” của bị cáo Quàng Văn H:
Quàng Văn H, Lò Văn D và Lò Văn T1 thừa nhận: Ngày 30/01/2024, tại nhà của Quàng Văn H ở Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Quàng Văn H đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 Heroine có khối lượng 0,11 gam Heroine cho Lò Văn D với giá là 100.000, đồng. Bằng hình thức cho cắm điện thoại, sau mỗi người góp 50.000, đồng.
Xét hành vi bán ma túy của Quàng Văn H đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy Quàng Văn H và Lò Văn D trực tiếp trao đổi mua bán. Còn Lò Văn T1 không trao đổi. Do đó có căn cứ xác định Quàng Văn H bán ma túy cho một người.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Quàng Văn H tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Quàng Văn H đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251của Bộ luật Hình sự.
[2.2]. Xét hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của các bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn V và Tòng Văn C:
Các bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn V và Tòng Văn C thừa nhận: Ngày 30/01/2024, tại nhà của Quàng Văn H ở Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Quàng Văn H đã thực hiện hành vi dùng nhà của mình. Quàng Văn H, Lò Văn V và Tòng Văn C cùng nhau góp ma túy để cung cấp cho Cầm Văn H6, sinh ngày 18/12/2006 (tính đến thời điểm 30/01/2024 là 17 tuổi 01 tháng 23 ngày), Lò Hồng H3 và một người bạn tên Q1 sử dụng ma túy (đốt hít vào cơ thể).
Đồng thời ngay sau đó Quàng Văn H cung cấp số ma túy còn lại cho ba người sử dụng (đốt hít vào cơ thể) là Cà Văn D1, sinh ngày 25/8/2007 (tính đến thời điểm 30/01/2024 là 16 tuổi 5 tháng 06 ngày) và Cà Văn N2 đều ở bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La cùng Cà Thanh D2 ở tiểu khu B, xã M, huyện M.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của những người sử dụng ma túy, các biên bản đối chất.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Các bị cáo Quàng Văn H đã thực hiện hành vi cung cấp địa điểm, bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn V và Tòng Văn C đã thực hiện hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Quàng Văn H phạm tội với ba tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm a “Phạm tội hai lần trở lên” điểm b “Đối với hai người trở lên”, điểm c “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C phạm tội với hai tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm b “Đối với hai người trở lên”, điểm c “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[2.3]. Xét hành vi phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” của bị cáo Quàng Văn H:
Quàng Văn H, Lò Văn D và Lò Văn T1 thừa nhận: Ngày 30/01/2024, tại nhà của Quàng Văn H ở Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Quàng Văn H đã thực hiện hành vi biết và mặc nhiên cho Lò Văn D và Lò Văn T1 sử dụng chít Heroine trong nhà. Hành vi mặc nhiên cho Lò Văn D và Lò Văn T1 sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà được đối chất làm rõ là Quàng Văn H nghe thấy xin sử dụng nhưng không nói gì để cho Lò Văn D và Lò Văn T1 sử dụng ma túy.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của những người sử dụng ma túy, các biên bản đối chất.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Quàng Văn H đã thực hiện hành vi mặc nhiên cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2.4]. Xét hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1:
Các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1 thừa nhận: Ngày 30/01/2024 tại khu vực tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đã cất giữ trái phép 01 Heroine có khối lượng 0,11 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người bán ma túy, các biên bản đối chất.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Quàng Văn H: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân Quàng Văn H: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Tiền án, tiền sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Quàng Văn H thật thà khai báo. Khai ra hành vi phạm tội chứa chấp trước đó được xác định là tự thú. Khai ra hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C, đã tích cực hợp tác phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.
Về nhân thân bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Tiền án, tiền sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nhằm giáo dục các bị cáo.
[5.1].Về nhân thân bị cáo Lò Văn D: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Tiền án: Không; bị cáo có tiền sự: Tại Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 02/11/2021 của TAND quận Cầu Giấy, Thành phố Hà nội về Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; Nhân thân: Tại bản án số 03/2020/HSST ngày 15/01/2020 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
[5.2]. Về nhân thân bị cáo Lò Văn T1: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5.3]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1 thật thà khai báo. Khai ra hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn H, đã tích cực hợp tác phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[7]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của các bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn V và Tòng Văn C: Bị cáo Quàng Văn H với vai trò chủ mưu, đã chủ động, cung cấp địa điểm, rủ rê bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C tham gia cung cấp trái phép chất ma túy để cho người khác sử dụng. Các bị cáo Lò Văn V và Tòng Văn C tham gia cung cấp trái phép chất ma túy để cho người khác sử dụng. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[8]. Xét về vai trò đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn T1. Hai bị cáo đều bàn nhau mua ma túy cất giữ để sử dụng, có vai trò ngang nhau. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[9]. Về vật chứng: Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 0,06 (không phẩy không sáu) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 31/01/2024);
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước 01 chiếc điện thoại di động Redmi 6A, màn hình cảm ứng, màu đen, mặt lưng nhựa màu vàng, trên máy có nhiều vết xước, tại mép phải phía trên màn hình có vết nứt vỡ, cũ qua sử dụng (được niêm phong theo biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 31/01/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lò Văn N1 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S không biển kiểm soát, thu giữ của Lò Văn T1;
Bà Quàng Thị Q 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu xanh bạc, biển kiểm soát 26L1-186.75, thu giữ của Lò Văn V.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Quàng Văn H, Lò Văn V, Tòng Văn C, Lò Văn D và Lò Văn T1 phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/9/2024.
|
Nơi nhận:
(đã ký) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự về các tội mua bán trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về các tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án Quàng Văn Hùng và đp phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
