TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HS-PT Ngày: 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Hứa Quang Thông.
- Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ.
- Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lưu Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Lý T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Bùi Lý T, sinh ngày 11/3/1996, tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số B ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Con ông Bùi Út E và bà Lại Thị L; Vợ là Võ Thị Cẩm T1; Chưa có con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Lý T: Luật sư Trần Minh T2 - Công ty L1 và C - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Tầng A, A B, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 45 phút ngày 01/11/2023, Bùi Lý T có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển số 66V-806.38 phía sau chở vợ là chị Võ Thị Cẩm T1 đi trên đường ĐT848 theo hướng xã T đi thành phố S. Khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (đoạn trước cơ sở nấu ăn P), lúc này có xe ôtô tải biển số 66C-076.80 của anh Đoàn Văn R đang đỗ sát lề phải để chuyển thức ăn lên xe, do không chú ý quan sát phía trước nên xe mô tô do T điều khiển va chạm vào xe đạp do bà Đặng Thị B đang dẫn bộ phía bên trái xe tải của anh R và phía trước cùng chiều với xe mô tô của bị cáo T. Hậu quả làm bà B bị chấn thương vùng đầu được đưa đến Trạm Y tế xã T sơ cứu, rồi chuyển đến Bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Tháp cấp cứu, sau đó bà B tử vong. Kết quả luận giám định pháp y về tử thi số 1198/KL-KTHS, ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định nguyên nhân tử vong của bà B là do chấn thương vùng đầu gây dập và xuất huyết não.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định, vụ tai nạn diễn ra tại tọa độ 10°22′58″B, 105°42′17″Đ thuộc đường Đ, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường trải nhựa có chiều rộng 8,6 mét, được cấu tạo bằng bê tông nhựa, trên đường có vạch kẻ đường màu vàng đứt quảng, chia mặt đường thành hai phần đường cho phương tiện chạy ngược chiều nhau. Mép đường làm chuẩn là mép đường bên phải, các số đo vào lề bên phải hướng từ xã T đi thành phố S. Vùng va chạm giữa xe mô tô biển số 66V1-806.38 do Bùi Lý T điều khiển và xe đạp do bà Đặng Thị B dẫn bộ nằm cách lề đường chuẩn là 1,8 mét, cách đầu chấm cày ký hiệu về hướng thành phố S là 1,2 mét.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 66V1-806.38 sau khi xảy ra tai nạn như sau: Đầu tay thắng bên trái bị trầy xước 2cm x 2cm; đèn tín hiệu bên trái gãy văng ra; yếm chắn gió bên trái gãy văng ra; bu long trục trước bên trí bị trầy xước 1cm x 0,2 cm. Đối với xe đạp, sau khi tai nạn, cung chắn bùm sau móp thụng; chân chống đứng phía sau cong lệch sang trái, bu long, cốt xe trầy xước 1cm x 0,5cm. Kết quả kiểm tra của Cơ quan có thẩm quyền xác định bị cáo T không có nồng độ cồn trong khí thở, và âm tính với chất ma túy.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Bùi Lý T 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Bùi Lý T do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 15/7/2015.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và đã trả lại cho bị cáo T: 01 xe cùng giấy đăng ký xe mô tô biển số 66V1-806.38, nhãn hiệu Honda, loại SH150I, màu trắng đen, số máy KF25E0036969, số khung RLHKF25GY036822 (đã qua sử dụng và bị hư hỏng); Tạm giữ và đã trả lại cho anh Hồ Sĩ Nghĩa là người đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị B: 01 xe đạp loại Martin 107, nhãn hiệu Asama, màu trắng phía trước có gắn rổ nhựa, phía sau yên có buộc đoạn gỗ để chở hàng (đã qua sử dụng và bị hư hỏng). Tạm giữ và đã trả lại cho anh Đoàn Văn R 01 xe ôtô tải biển số 66C-076.80, nhãn hiệu DONGBEN, số loại DB1021, màu bạc; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô tải biển số 66C-076.80, số 66008535 do Phòng C Công an tỉnh Đ cấp ngày 10/3/2022; 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đoàn Văn R do Sở Giao thông vận tải cấp ngày 04/3/2020.
Qua giai đoạn điều tra, truy tố, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 359.584.000 đồng (Chi phí mua đồ ăn, bánh thuốc, làm đám ma là 25.000.000 đồng; tiền đặt tiệc 29.500.000 đồng; tiền nhà khách; thuê bàn ghế 1.610.000 đồng; tiền hòm 16.000.000 đồng; tiền công thợ xây dựng là 22.000.000 đồng; tiền vật tư để chôn cất, xây dựng mồ mã là 60.674.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng). Bị cáo Bùi Lý T đã bồi thường các khoản chi phí theo quy định cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số 153.000.000 đồng và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Bùi Lý T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Xử phạt: Bị cáo Bùi Lý T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 03 năm 2024 bị cáo Bùi Lý T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Bùi Lý T không rút kháng cáo. Bị cáo T thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản án sơ thẩm miêu tả. Bị cáo thừa nhận Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là nặng, nên bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo, vì trong vụ án này bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho gia đình bị hại xong, gia đình bị hại có đơn bãi nại yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo.
- Trong quá trình xét xử phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Trần Minh T2 có bổ sung các chứng cứ gồm: Hợp đồng lao động giữa Công ty Cổ phần T3 với bị cáo T; Giấy giao nhận tiền về bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại với số tiền là 40.000.000 đồng; Đơn xin được hưởng án treo của bị cáo T có xác nhận của anh Hồ Sĩ Ng1 người đại diện của gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T được hưởng án treo vì bị cáo T đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, đồng thời gia đình bị hại cũng có gửi đơn xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định: Hành vi của bị cáo Bùi Lý T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các chứng cứ kết tội mà các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo đã “tự nguyện bồi thường thiệt hại”, bị cáo và gia đình là thân nhân và đang trực tiếp thờ cúng liệt sĩ (bác ruột của bị cáo T là liệt sĩ); đại diện bị hại làm đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo và Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử.
Đối với việc Luật sư T2 là người bào chữa cho bị cáo T xin cho bị cáo được hưởng án treo và có cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhận thấy bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, có nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, ngoài ra các tài liệu mà Luật sư T2 xuất trình tại phiên tòa hôm nay không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại Tòa án cấp phúc thẩm và với hình phạt 06 tháng tù đã tuyên đối với bị cáo là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm, hình phạt này là phù hợp pháp luật. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
Tại phần tranh luận, bị cáo Bùi Lý T xin Hội đồng xét xử cho được hưởng án treo. Trong lời nói sau cùng, bị cáo tha thiết xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Lý T thừa nhận do ngủ gật trong lúc điều khiểu xe trên đường nên khi nhìn thấy bị hại là bà B dẫn xe đạp đi cùng chiều, bị cáo đã không xử lý kịp dẫn đến xe môtô do bị cáo T điều khiểu đụng vào phía sau bên phải xe đạp của bà B làm bà B chấn thương và tử vong sau đó, bị cáo xác định lỗi là do bị cáo nên mới dẫn đến hậu quả như trên.
Theo kết quả khám nghiệm hiện trường xác định, vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường trải nhựa có chiều rộng 8,6 mét, được cấu tạo bằng bê tông nhựa, trên đường có vạch kẻ đường màu vàng đứt quảng, chia mặt đường thành hai phần đường cho phương tiện chạy ngược chiều nhau.
Qua lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Bùi Lý T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn giao thông. Bị cáo T là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
[2] Xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ do bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo và gia đình là thân nhân và đang trực tiếp thờ cúng liệt sĩ (bác ruột của bị cáo T là liệt sĩ); đại diện của bị hại làm đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo T đã bổ sung thêm các tài liệu chứng cứ có tình tiết mới, tuy nhiên đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo mức án thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm là từ 01 năm đến 05 năm xuống còn 06 tháng. Vì vậy, mức án 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp pháp luật và đã là có lợi cho bị cáo.
Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo và người bào chữa có cung cấp bổ sung thêm tài liệu chứng minh cho các tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên các tình tiết này thuộc theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, trong tình hình hiện nay, tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng là rất đáng báo động, nên mọi hành vi vi phạm cần phải được xử lý nghiêm minh mới bảo đảm ổn định trật tự an toàn giao thông, góp phần răn đe và phòng ngừa chung. Từ các phân tích trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Lý T, Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Trần Minh T2 đề nghị chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo cho bị cáo Bùi Lý T là chưa phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Xét những ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Lý T và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, do phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Bùi Lý T không được chấp nhận, nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Lý T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Bùi Lý T.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Lý T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Bùi Lý T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Lý T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Thanh Mỹ | Hứa Quang Thông |
Phạm Minh Tùng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Quang Thông |
Bản án số 140/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 140/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
