|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HSST Ngày: 17/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Ông Ngô Văn Sỹ
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Trang – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Vi Văn H - Sinh năm 1968; Nơi ĐKNKTT: Bản Mon, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông Vi Văn C và bà La Thị T; Có vợ đã ly hôn và 02 con sinh năm 1995, 1997; Tiền án, tiền sự: Chưa.
- Trần Ngô C1 sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T1 và bà Ngô Thị L; Có vợ là Phạm Thị Thanh H1 và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt giam ngày 12/5/2024. Có mặt.
Bị cáo bị bắt giam ngày 12/5/2024. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn T2 : Bà Lê Thị Hồng T3 – Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của TT trợ giúp pháp lý nhà nước TP Đà Nẵng. Có mặt.
* Bị hại: Công ty CP T5; Địa chỉ: B Ông Í, phường T, quận H, TP Đà Nẵng.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu H2 – Giám đốc.
Đại diện tham gia tố tụng: Ông Huỳnh Lê Hoàng P, sinh năm 1977; Địa chỉ: F T, Tổ D phường T, quận T, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Đinh Thị Thùy V, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ C phường T, quận T, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
- - Bà Ngô Thị L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Vi Văn H và Trần Ngô C1 đã bàn bạc cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại các căn hộ chưa có người ở khu đô thị A thuộc khu đô thị T, P. H, Q. L, cụ thể như sau:
- Vụ thứ 1: Sáng ngày 11/5/2024, H và C1 đến căn hộ A Khu đô thị T, thuộc P. H, Q. L, TP . của ông Trần Hữu H2 là chủ sở hữu căn hộ. Sau đó cả hai đã sử dụng 01 cái búa, 01 con dao, 01 tua vít của ông H đã lượm được trước đó để đập bể toàn bộ kính của 01 khung cửa nhôm Xingfa, rồi tháo toàn bộ khung nhôm này ra khỏi tường và buộc lại thành bó. Sau đó, H đem toàn bộ số khung nhôm này đến cửa hàng phế liệu ở ngã tư đường T và K, P.H, Q. L rồi bán tài sản vừa trộm cắp được cho bà Đinh Thị Thùy V với giá 310.000 đồng. Sau khi bán bộ khung nhôm trên, H đưa C1 200.000₫ để đi mua đồ ăn cho cả hai, số tiền 110.000 đồng còn lại H cất giữ.
* Theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - U kết luận: giá trị của 01 bộ cửa nhôm X (đầy đủ khung cửa và kính) kích thước 2,4m x 2,8m là 9.878.000 đồng.
- Vụ thứ 2: Khoảng 06h00 ngày 12/5/2024, Vi Văn H và Trần Ngô C1 tiếp tục cùng nhau đến căn hộ A Khu đô thị T, thuộc P. H, Q. L, TP . (cách căn hộ A105-08 01 căn) của ông Trần Hữu H2 là chủ sở hữu căn hộ. Tại đây, cả hai thay phiên nhau dùng búa, dao đập phá kính sau đó dùng tua vít tháo rời bộ khung cửa nhôm X rồi bó lại để xuống đất trong nhà, chờ đem đi tiêu thụ.
* Theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - U kết luận: giá trị của 01 bộ cửa nhôm X (đầy đủ khung cửa và kính) kích thước 2,4m x 2,8m là 9.878.000 đồng.
- Vụ thứ 3: Sau khi đập vỡ kính và tháo dỡ toàn bộ khung nhôm của bộ cửa của căn hộ A, cả hai lại tiếp tục đập kính tại căn hộ A do ông Trần Hữu H2 là chủ sở hữu và đang chuẩn bị tháo khung nhôm bộ cửa này đang cố định trên tường ra thì bị lực lượng Công an P1, Q. L đang tổ chức tuần tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Theo Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - U kết luận: giá trị của 01 bộ cửa nhôm X (đầy đủ khung cửa và kính) kích thước 2,4m x 2,8m là 9.878.000 đồng.
Qua làm việc, Vi Văn H và Trần Ngô C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi trên của mình, mục đích cả hai đập kính của các bộ cửa trên để dễ dàng tháo khung nhôm của bộ cửa X đem đi tiêu thụ.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 29.634.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
* Tang vật thu giữ:
- 01 con dao có đặc điểm dài 39,3 cm, màu đen, cán và lưỡi liền nhau bằng kim loại, cán dài 11,3 cm, lưỡi dao dài 28 cm.
- 01 cây búa dài khoảng 34 cm, cán gỗ dài 30,3 cm, đầu búa bằng kim loại, kích thước (3,7 x 10 x 4) cm.
2
- 01 tua vít loại 4 chấu dài 22,5 cm, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, trục tua vít bằng kim loại dài 12,5 cm.
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 280 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 175 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 171 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 173 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 168 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm
- 02 thanh nhôm xingfa, dài 334 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 160 cm
- 04 thanh nhôm xingfa, dài 335,5 cm
- 02 thanh nhôm xingfa, dài 278,5 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 338 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 333,5 cm
- 01 thanh nhôm xingfa, dài 337,5 cm
- 02 thanh nhôm xingfa, dài 214,5 cm
- 06 thanh nhôm xingfa, dài 109 cm
- 04 thanh nhôm xingfa, dài 53,5 cm
- Tiền ngân hàng N: 600.000 đồng (thu giữ của Vi Văn H).
* Về dân sự: Ông Huỳnh Lê Hoàng P được ông Trần Hữu H2– Giám đốc Công ty Cổ phần T5 là chủ sở hữu các căn hộ A105-05, A105-06, A105-08 Khu đô thị T, thuộc P. H, Q. L, TP ., ủy quyền theo giấy ủy quyền số 15/GUQ-HH ngày 15/5/2024: Ngày 20/8/2024, ông P đã nhận số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo Trần Ngô C1 đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Vì thế, ông Huỳnh Lê Hoàng P tiếp tục yêu cầu các bị cáo Vi Văn H, Trần Ngô C1 khắc phục số tiền còn lại theo kết luận đã định giá các tài sản bị chiếm đoạt.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 117/2024/CT-VKS ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173 BLHS; Điểm r, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 58 BLHS, xử phạt Vi Văn H từ 15 – 18 tháng tù.
3
- Khoản 1 Điều 173 BLHS; Điểm b, r, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 58 BLHS, xử phạt Trần Ngô C1 từ 12 – 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 29.634.000 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 14.817.000đ. Bị cáo Chung đã tác động gia đình bồi thường được 4.000.000đ, số tiền còn lại buộc bị cáo tiếp tục bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 con dao có đặc điểm dài 39,3 cm, màu đen, cán và lưỡi liền nhau bằng kim loại, cán dài 11,3 cm, lưỡi dao dài 28 cm; 01 cây búa dài khoảng 34 cm, cán gỗ dài 30,3 cm, đầu búa bằng kim loại, kích thước (3,7 x 10 x 4) cm; 01 tua vít loại 4 chấu dài 22,5 cm, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, trục tua vít bằng kim loại dài 12,5 cm.
- Đối với các vật chứng gồm: 01 thanh nhôm xingfa, dài 280 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 175 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 171 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 173 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 168 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 334 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 335,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 278,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 338 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 333,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 337,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 214,5 cm; 06 thanh nhôm xingfa, dài 109 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 53,5 cm. Bị hại xác định toàn bộ các vật chứng này đều đã bị hư hỏng toàn bộ, không thể tái sử dụng được nên không nhận lại. Vì thế, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu xung công quỹ Nhà nước.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 600.000 đồng của Vi Văn H để đảm bảo thi hành án.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Vi Văn H thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo, thống nhất cùng quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, đề nghị xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo bị nguyện khai ra những lần phạm tội trước đó; bị cáo H là người dân tộc T4, khả năng nhận thức pháp luật còn rất hạn chế, do đó đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp thấp nhất, để đảm bảo lợi ích tốt nhất, nhằm giáo dục bị cáo sửa chữa sai lầm, giúp đỡ bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát
4
viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 thì thấy: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 11/5/2024 và ngày 12/5/2024, tại các căn hộ A105-05, A105-06, A105-08 Khu đô thị T, thuộc P. H, Q . L, TP ., Vi Văn H và Trần Ngô C1 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 03 bộ cửa nhôm xingfa của ông Trần Hữu H2, có tổng giá trị tài sản là 29.634.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi của các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 thì thấy: Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, sử dụng cho nhu cầu của bản thân mà không phải lao động; các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 03 bộ cửa nhôm xingfa, có tổng giá trị tài sản là 29.634.000 đồng. Trong vụ án này, bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Chung cùng tham gia. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, đối với các bị cáo cần phải xử phạt một mức án nghiêm, tương xứng mới đủ tính cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bản thân các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo cũng đã tự thú hành vi phạm tội của mình trước khi bị bắt quả tang. Đồng thời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Ngô C1. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Riêng đối với bị cáo Trần Ngô C1 đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng, do đó cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vi Văn H bồi thường cho bị hại ½ giá trị thiệt hại của 03 bộ của nhôm X do bị cáo gây ra là 14.817.000 đồng theo quy định của
5
pháp luật. Đối với bị cáo Trần Ngô C1 đã tác động gia đình bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho bị hại nên HĐXX tuyên buộc bị cáo Trần Ngô C1 bồi thường cho bị hại 10.817.000 đồng.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có đặc điểm dài 39,3 cm, màu đen,cán và lưỡi liền nhau bằng kim loại, cán dài 11,3 cm, lưỡi dao dài 28 cm; 01 cây búa dài khoảng 34 cm, cán gỗ dài 30,3 cm, đầu búa bằng kim loại, kích thước (3,7 x 10 x 4) cm; 01 tua vít loại 4 chấu dài 22,5 cm, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, trục tua vít bằng kim loại dài 12,5 cm.
- Tịch thu sung công quỹ: 01 thanh nhôm xingfa, dài 280 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 175 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 171 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 173 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 168 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 334 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 335,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 278,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 338 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 333,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 337,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 214,5 cm; 06 thanh nhôm xingfa, dài 109 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 53,5 cm.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 600.000 đồng của Vi Văn H để đảm bảo thi hành án. (Các vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
[7]. Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:
- Đối với bà Đinh Thị Thùy V – là người đã mua lại số khung nhôm trộm cắp được do Vi Văn H đem đến với giá 310.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà V không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Vi Văn H và Trần Ngô C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Điều luật áp dụng:
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Vi Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 12/5/2024.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Trần Ngô C1 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 12/5/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 468, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc bị cáo Vi Văn H bồi thường cho Công ty CP T5 số tiền là 14.817.000 đồng.
6
Buộc bị cáo Trần Ngô C1 bồi thường cho Công ty CP T5 số tiền là 10.817.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có đặc điểm dài 39,3 cm, màu đen,cán và lưỡi liền nhau bằng kim loại, cán dài 11,3 cm, lưỡi dao dài 28 cm; 01 cây búa dài khoảng 34 cm, cán gỗ dài 30,3 cm, đầu búa bằng kim loại, kích thước (3,7 x 10 x 4) cm; 01 tua vít loại 4 chấu dài 22,5 cm, cán bằng gỗ tròn dài 10 cm, trục tua vít bằng kim loại dài 12,5 cm.
- - Tịch thu sung công quỹ: 01 thanh nhôm xingfa, dài 280 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 175 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 171 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 173 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 168 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 215 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 334 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 163 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 335,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 278,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 338 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 333,5 cm; 01 thanh nhôm xingfa, dài 337,5 cm; 02 thanh nhôm xingfa, dài 214,5 cm; 06 thanh nhôm xingfa, dài 109 cm; 04 thanh nhôm xingfa, dài 53,5 cm.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 600.000 đồng của Vi Văn H để đảm bảo thi hành án. (Các vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án Dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Vi Văn H, Trần Ngô C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST
Bị cáo Vi Văn H phải chịu 740.850 đồng (Bảy trăm bốn mươi ngàn tám trăm năm mươi đồng) án phí DSST;
Bị cáo Trần Ngô C1 phải chịu 540.850 đồng (Năm trăm bốn mươi ngàn tám trăm năm mươi đồng) án phí DSST.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Trần Nguyễn Thi Thi |
7
8
Bản án số 140/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn H - Trần Ngô C trộm cắp tài sản
