|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/DS-ST Ngày: 17-4-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ; hợp đồng thế chấp tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm
- Ông Trần Hùng Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 426/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A). Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – chức danh: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Hữu H – chức danh: Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh thành phố L (Theo Quyết định ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019)
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Chí T – chức vụ: Phó giám đốc A Chi nhánh thành phố L (Theo giấy ủy quyền số 376/UQ-NHNo.LX ngày 26/10/2023)
Địa chỉ liên hệ: Số D, đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Điện thoại: 02963842xxx – 3840615.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số A, Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0394.656.xxx.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1930.
- Bà Phan Thị T1, sinh năm 1979.
Cùng địa chỉ: Ấp Vĩnh Phú, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Cháu Nguyễn Hồng D, sinh năm 2010.
- Cháu Nguyễn Hoài N, sinh năm 2014.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu D, cháu N: Ông Nguyễn Văn Đ – cha ruột cháu D, cháu N và bà Phan Thị T1 – mẹ ruột cháu D, cháu N.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
(Tại phiên toà có mặt người đại diện của nguyên đơn và bị đơn ông Đ; các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/01/2021, Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh thành phố L và ông Nguyễn Văn Đ ký kết hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202100064. Tổng số tiền cho vay: 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng); thời hạn cho vay: 15 tháng; lãi suất: 10%/năm; mục đích vay: Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống (Mua sắm vật dụng và sửa chữa nhà ở).
Tài sản thế chấp bảo đảm nghĩa vụ là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 547625, số vào sổ CH06266, do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 28/10/2014 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 24/HĐTC ngày 20/01/2021, đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 20/01/2021. Tổng giá trị tài sản là 216.900.000₫ (Hai trăm mười sáu triệu, chín trăm nghìn đồng).
Đến ngày 27/6/2023, tổng dư nợ còn lại của ông Nguyễn Văn Đ là 183.777.808 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi bảy ngàn tám trăm lẻ tám đồng). Ngân hàng đã nhiều lần làm việc bằng văn bản với ông Đ để yêu cầu ông thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, nhưng ông Đ vẫn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc, lãi. Căn cứ khoản 5 Điều 9 của hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202100064 ngày 20 tháng 01 năm 2021 các bên thỏa thuận Tòa án nơi có trụ sở của Ngân hàng N1 – Chi nhánh thành phố L có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
Buộc ông Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 (Do Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh thành phố L đại diện nhận) số tiền vốn, lãi tính đến ngày 17/4/2024 là 202.447.671 đồng (Bằng chữ: Hai trăm lẻ hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng). Trong đó: vốn: 140.000.000 đồng; lãi trong hạn và quá hạn 62.447.671 đồng.
Ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 đến khi trả dứt điểm số tiền vay theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202100064 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay ngày 20/01/2021, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay nói trên thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 547625, số vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06266, diện tích 216,90 m², thửa số 82, tờ bản đồ 65 do UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 28/10/2014, hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2021 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1 mang tên ông Nguyễn Văn Đ được xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo thi hành án.
Bị đơn trong quá trình tố tụng có văn bản trình bày ý kiến:
Ông thống nhất số nợ Ngân hàng khởi kiện nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng trả cho Ngân hàng, ông đang bán tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Khi nào bán được ông sẽ trả ngay cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận Tòa án giải quyết tranh chấp nơi nguyên đơn có trụ sở tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 20/01/2021 ông Đ ký hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202100064 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay với ngân hàng để vay số tiền 140.000.000 đồng; thời hạn vay 15 tháng (ngày giải ngân 20/01/2021, ngày đến hạn 20/4/2022); lãi suất 10%/năm; mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống (mua sắm vật dụng và sửa chữa nhà ở). Sau khi nhận tiền vay, ông Đ đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi theo thỏa thuận của hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên phải có nghĩa vụ trả vốn và lãi theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng
[2.2] Ngày 20/01/2021 ông Đ ký hợp đồng thế chấp số 24/HĐTC để đảm bảo cho khoản vay, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 547625, số vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06266, diện tích 216,90 m², thửa số 82, tờ bản đồ 65 do UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 28/10/2014, hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2021 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1. Hợp đồng thế chấp về hình thức và nội dung phù hợp quy định pháp luật, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai nên có hiệu lực pháp luật. Trường hợp ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về chi phí tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên ông Đ có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng N1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Đ có trách nhiệm nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 188 Luật đất đai;
- - Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 463; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự;
- - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 (A).
Buộc ông Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 (Do Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh thành phố L đại diện nhận) số tiền vốn, lãi tính đến ngày 17/4/2024 là 202.447.671 đồng (Bằng chữ: Hai trăm lẻ hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng). Trong đó: vốn: 140.000.000 đồng; lãi trong hạn và quá hạn 62.447.671 đồng. Ngân hàng có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp khi ông Đ đã thanh toán xong số tiền nợ.
Ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả dứt điểm số tiền vay theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6701-LAV-202100064 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay ngày 20/01/2021, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng nhận tiền nói trên thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 547625, số vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06266, diện tích 216,90 m², thửa số 82, tờ bản đồ 65 do UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 28/10/2014, hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 20/01/2021 tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1 mang tên ông Nguyễn Văn Đ được xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo thi hành án.
[2] Về chi phí tố tụng:
Ông Đ có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng N1 (Do Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh thành phố L đại diện nhận) số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đ có trách nhiệm nộp 10.122.000 đồng (Mười triệu một trăm hai mươi hai nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng N1 được nhận lại 4.594.445 đ (Bốn triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002574 ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. (Do Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh thành phố L đại diện nhận.
[4] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 140/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 140/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).
