|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HS-ST
Ngày: 16/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Lương Khoa;
+ Ông Lê Tịnh Thới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
+ Nguyễn Huy H (Mập) - sinh năm 1998 tại Đồng Nai
Trú tại: Khu phố 4, thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Chổ ở: ấp Bằng Lăng, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam
Cha: Nguyễn Ngọc T - 1971
Mẹ: Nguyễn Thị Thúy N - 1974
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 và giam cho đến nay.
+ Thoòng Minh D (Phạt) - sinh năm 2005 tại Đồng Nai
Trú tại: Khu phố 1, phường Xuân An, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Chổ ở: ấp Bằng Lăng, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12
Dân tộc: H1; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam
Cha: Thoòng A Sìn
Mẹ: Chiếng Tiên Tri - 1978
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 và giam cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chiếng T – sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
Nguyễn Hoàng H2 - sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Nguyễn Hoàng H3 - sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 18/01/2024, Nguyễn Huy H nhắn tin cho Thoòng Minh D qua ứng dụng Mesenger đến quán N1 thuộc Ấp B, xã X để đưa tiền cho D đi mua ma túy đá về sử dụng, D đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, D đến quán nước Bằng L gặp H. Tại đây, H chuyển khoản qua ứng dụng momo cho D số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đưa 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng) tiền mặt cho D. Sau khi nhận được tiền từ H, D gọi điện cho một người thanh niên tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy và được người này hẹn đi đến khu vực gần N2 thuộc xã L, huyện X để giao dịch.
D đã điều khiển xe môtô biển số 60B5-500.85 đi đến khu vực gần nhà thờ T3 lành đưa cho T1 số tiền 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng) và chuyển khoản số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho T1 qua ứng dụng momo, T1 đưa 01 gói nilon bên trong có ma túy đá cho D, D cất giấu gói ma túy vào túi quần bên trái và điều khiển xe về lại quán nước B.
Trong lúc D đi mua ma túy thì H đã nhắn tin cho Nguyễn Hoàng H2 rủ đến cùng sử dụng ma túy thì H2 đồng ý.
Đến 15 giờ 30 cùng ngày, D trở về thì gặp H và H2, sau đó cả ba đi vào một căn nhà hoang gần đó để sử dụng ma túy. Tại đây, D lấy ma túy đá vừa mua được cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế có sẵn trong nhà hoang để cùng nhau sử dụng. Khoảng 15 phút sau, Nguyễn Hoàng H3 (là anh ruột của H2) đến cùng sử dụng ma túy đá chung với D, H và H2. Được một lúc thì H2 rời đi. Đến khoảng 16 giờ 10 phút ngày cùng ngày, Công an xã X, huyện X đến kiểm tra hành chính phát hiện D, H và H3 đang sử dụng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.
* Vật chứng vụ án và xử lý:
- 01 (một) nỏ thủy tinh kích thước dài 13 cm, bên trong có bám dính chất màu vàng nâu nghi là ma túy đá, được niêm phong, kí hiệu M;
- 01 (một) chai nước thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) quẹt gas;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh;
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Realme màu xanh. Quá trình điều tra xác định, điện thoại nêu trên thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Hoàng H3 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho H3.
- 01 (một) xe môtô biển số 60B5-500.85. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô nêu trên thuộc quyền sở hữu của bà Chiếng Tiên T2, sinh năm 1978, ngụ tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Do bà T2 không biết việc D sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho bà T2.
* Tại bản Kết luận giám định số 169/KL-KTHS, ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Mẫu chất vàng nâu bám trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng. Sau giám định, mẫu vật giám định đã sử dụng hết, không còn để hoàn lại.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, Nguyễn Huy H và Thoòng Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKSXL ngày 25/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy H, Thoòng Minh D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy H, Thoòng Minh D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không. Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về mức hình phạt: Hảo từ 07 năm 06 tháng – 08 năm tù; D từ 07 năm – 07 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 169/KL-KTHS, ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) chai nước thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) quẹt gas. Đề nghị tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chiếng T xác định việc Thoòng Minh D lấy xe môtô biển số 60B5 – 500.85 của bà đi mua ma túy thì bà hoàn toàn không biết. Bà đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì.
* Những người làm chứng vắng mặt nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.
* Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 ngày 18/01/2024, tại căn nhà hoang thuộc ấp B, xã X, Nguyễn Huy H và Thoòng Minh D đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cung cấp ma túy cho Nguyễn Hoàng H2 và Nguyễn Hoàng H3 đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể. Kết quả giám định: Mẫu chất vàng nâu bám trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, biết rõ tác hại của ma túy đến sức khỏe của những người sử dụng ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì đã nghiện ma túy, muốn thỏa mãn cơn nghiện ma túy mà các bị cáo dấn thân vào con đường phạm tội. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, xử phạt mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra đồng thời cũng là tạo điều kiện có thời gian cai nghiện ma túy.
Xét đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều đóng vai trò thực hành. Tuy nhiên về vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy:
Nguyễn Huy H là người chủ động rủ rê, lôi kéo bị cáo D và H3, H2 sử dụng ma túy, cung cấp tiền cho D đi mua ma túy nên vai trò của H cao hơn D nên phải chịu mức án cao hơn đồng phạm.
Đối với bị cáo D tuy là người được rủ rê nhưng bị cáo tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Khi nhận được lời rủ rê của H, bị cáo nhận lời ngay và chủ động gọi điện thoại cho T1 để hỏi mua ma túy, là người trực tiếp đi giao dịch với T1 và lấy ma túy mua được bỏ vào dụng cụ sử dụng ma túy để cho cả bọn cùng sử dụng. Vai trò của D thấp hơn của H nên phải chịu mức án thấp hơn H.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự, các bị cáo là lần đầu phạm tội. Riêng bị cáo D là người dân tộc H1. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Đối với người đàn ông tên T1 là người đã bán trái phép chất ma túy cho D, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
+ Đối với các tang vật: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 169/KL-KTHS ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) chai nước thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) quẹt gas, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh mà H và D dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; đảm bảo quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, khung điều luật áp dụng, nhân thân của các bị cáo, mức hình phạt và cách xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điều 38; điều 17; điều 58 Bộ luật Hình sự.
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Huy H (Mập), Thoòng Minh D (Phạt) phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy H (Mập) - 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.
Xử phạt: Bị cáo Thoòng Minh D (Phạt) - 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024
- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 169/KL-KTHS ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) chiếc chai thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu xanh; 01 (một) chiếc quẹt gas.
+ Tuyên tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu S1 màu đen (hiện trạng khi nhận: điện thoại bị nứt kính mặt trước); 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo màu xanh.
Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/6/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chiếng T biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tùng |
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy H cùng đồng phạm tổ chức sử dụnh trái phép chất ma túy
