Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2024/HS-ST

Ngày 15/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Đặng Thị Hà;

Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Xuân Vượng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang D, sinh ngày 18/9/2005; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1970 và bà Thân Thị T, sinh năm 1980 (đã chết); vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 30/3/2021, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bản án số: 152/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 10/4/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Đoàn Hải P, sinh năm 1995; trú tại: Số nhà A, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Thân Đức M, sinh năm 1953; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  2. Anh Trần Lâm Trấn V1, sinh ngày 13/4/2009 (vắng mặt);

Người đại diện cho anh Trần Lâm T1 V1: Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1958 (có mặt).

Đều cư trú tại: Số nhà F, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiều ngày 02/4/2024, Nguyễn Quang D rủ cháu họ là Trần Lâm Trấn V1 đi chơi. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, hai người đi bộ đến sân bóng W, đường T, phường D, thì nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp địa hình màu trắng để trên vỉa hè. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, V1 đi đến dắt chiếc xe đạp rồi đem ra đưa cho D. Sau đó, D đạp xe chở V1 đi chơi quanh các tuyến đường trong thành phố B.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, DV1 ngồi chơi tại ghế đá trước cửa số nhà A, đường N, phường T, thành phố B ở gần nhà D. Một lúc sau, anh Đoàn Hải P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG 5 biển số 98A - 699.62 chở vợ là Nguyễn Thị Như P1 và con đi về đỗ xe trước cửa nhà anh Psố nhà A, đường N. Anh P xuống xe bê đồ còn chị P1 bế con đi vào trong nhà. Lúc này, D phát hiện anh P chưa khóa cửa xe ô tô nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong xe ô tô. D chuyển sang ngồi bên ngoài ghế đá gần vị trí xe ô tô, dùng tay phải mở cánh cửa phụ phía trước xe ô tô rồi ngồi vào ghế phụ lục tìm tài sản. V1 ngồi bên ngoài cảnh giới. D lục tìm trong bệ tỳ tay xe ô tô thì thấy có chiếc ví da màu đen nên mở ra kiểm tra thì thấy có nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau. D lấy toàn bộ số tiền trong ví, xoè tiền ra rồi đút vào túi quần phía sau đang mặc, thời điểm D xoè tiền ra thì V1 ở bên ngoài nhìn thấy. Sau đó, D để chiếc ví vào vị trí ban đầu, đi ra khỏi xe và đóng cửa xe lại. Sau khi trộm cắp được tiền, D đạp xe chở V1 đi theo hướng cầu X đến đường gom cao tốc Bắc Giang - Hà Nội. Khi đến gần trại cá cảnh H thì D dừng xe kiểm đếm thấy trộm cắp được tổng số tiền là 4.770.000 đồng. D đạp xe chở V1 đi đến quán G ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V. D cùng V1 sử dụng chơi game và chi tiêu hết số tiền trên.

Đối với Trần Lâm Trấn V1, sinh ngày 13/4/2009 tham gia trộm cắp tài sản nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Bản Cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 07/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Quang D về tội: “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Quang D khai nhận toàn bộ hành vi như sau: Buổi chiều ngày 02/4/2024, bị cáo rủ cháu họ là Trần Lâm Trấn V1 đi chơi. Khi đi bộ đến sân bóng W, đường T, phường D thì nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp địa hình màu trắng để trên vỉa hè. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, V1 đi đến dắt chiếc xe đạp rồi đem ra đưa cho D. Sau đó, D đạp xe chở V1 đi chơi quanh các tuyến đường trong thành phố B.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, DV1 ngồi chơi tại ghế đá trước cửa số nhà A, đường N, phường T ở gần nhà bị cáo. Một lúc sau, anh Đoàn Hải P đi xe ô tô về đỗ xe trước cửa nhà. Anh P xuống xe đi vào trong nhà. Bị cáo phát hiện anh P chưa khóa cửa xe ô tô nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong xe ô tô. Bị cáo mở cánh cửa phụ phía trước xe ô tô rồi ngồi vào ghế phụ lục tìm tài sản. V1 ngồi bên ngoài cảnh giới. Bị cáo thấy có chiếc ví da màu đen nên mở ra kiểm tra thì thấy có nhiều tờ tiền. Bị cáo lấy toàn bộ số tiền trong ví. Sau đó,

2

bị cáo để chiếc ví vào vị trí ban đầu, đi ra khỏi xe và đóng cửa xe lại. Sau khi trộm cắp được tiền, bị cáo cùng V1 đi đến gần trại cá cảnh H thì D dừng xe kiểm đếm thấy trộm cắp được tổng số tiền là 4.770.000 đồng. Bị cáo đạp xe chở V1 đi đến quán G ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V. Bị cáo cùng V1 sử dụng chơi game và chi tiêu hết số tiền trên. Nay bị cáo thấy là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đồng ý sẽ trả lại cho anh P số tiền 4.770.000 đồng.

Bị hại là anh Đoàn Hải P có lời khai xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, anh đi xe ô tô về đỗ xe trước cửa nhà, anh xuống xe đi vào trong nhà, nhưng không khóa cửa xe. Sau đó, anh phát hiện bị mất số tiền là 4.770.000 đồng. Anh đã trình báo cơ quan công an và bắt được bị cáo. Nay, anh yêu cầu bị cáo trả lại cho anh số tiền 4.770.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Lâm T1 V1 có lời khai xác định: Buổi chiều ngày 02/4/2024, anh và bị cáo đi chơi. Khi đi bộ đến sân bóng W, đường T, phường D thì nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp địa hình màu trắng để trên vỉa hè. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, anh đi đến dắt chiếc xe đạp rồi đem ra đưa cho D.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước cửa số nhà A, đường N, phường T ở gần nhà bị cáo. Anh và bị cáo D thấy anh Đoàn Hải P đi xe ô tô về đỗ xe trước cửa nhà, nhưng chưa khóa cửa xe ô tô. Bị cáo D mở cánh cửa phụ phía trước xe ô tô rồi ngồi vào ghế phụ lục tìm tài sản. Anh ngồi bên ngoài cảnh giới. Sau khi trộm cắp được tiền, anh và bị cáo đi đến gần trại cá cảnh Huy L thì dừng xe kiểm đếm thấy trộm cắp được tổng số tiền là 4.770.000 đồng. Anh và bị cáo D sử dụng chơi game và chi tiêu hết số tiền trên. Nay, anh thấy là vi phạm pháp luật và đã bị Công an xử phạt hành chính, anh không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang D từ 12 tháng đến 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 07 tháng tại Bản án số: 152/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả bản án từ 19 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024, nhưng được trừ 03 tạm giữ (từ ngày 14/6/2023 đến ngày 17/6/2023).
  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải trả lại cho anh Đoàn Hải P số tiền 4.770.000 đồng.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo, đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

3

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người chứng kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng đã có lời khai, không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 02/4/2024, Nguyễn Quang D ngồi chơi tại ghế đá trước cửa số nhà A, đường N, phường T, thành phố B thì thấy anh Đoàn Hải P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG 5 biển số 98A - 699.62 đi về đỗ xe trước cửa nhà nhưng chưa khóa cửa xe. D mở cánh cửa phụ xe ô tô rồi ngồi vào ghế phụ lục tìm tài sản và trộm cắp của anh P số tiền 4.770.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sử hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Quang D phạm tội: “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Do đó, Cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 07/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4

Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội, để giáo dục bị cáo theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt 07 tháng tù, được hưởng án treo tại Bản án số: 152/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả bản án thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024, nhưng được trừ 03 tạm giữ (từ ngày 14/6/2023 đến ngày 17/6/2023) theo khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật hình sự.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đoàn Hải P yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 4.770.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

[6]. Các vấn đề khác:

  • Đối với chiếc xe đạp địa hình màu trắng mà DV1 khai trộm cắp tại vỉa hè đường T, phường D, thành phố B. D đã bán chiếc xe đạp này cho ông Thân Đức M được 500.000 đồng. Theo ông M khai đã tháo dỡ chiếc xe đạp và bán sắt vụn nên không thu hồi được. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phường D và rà soát, thông báo nhưng chưa xác định được bị hại. Cơ quan điều tra tách hành vi trộm cắp chiếc xe đạp địa hình nêu trên để tiếp tục xác minh, khi nào xác định được người bị hại sẽ xử lý theo pháp luật, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
  • Đối với Trần Lâm Trấn V1, sinh ngày 13/4/2009 tham gia trộm cắp tài sản nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[7]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang D 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” cho hưởng án treo của Bản án số: 152/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả bản án là 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024, nhưng được trừ 03 tạm giữ (từ ngày 14/6/2023 đến ngày 17/6/2023).

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đoàn Hải P số tiền 4.770.000 đồng (Bốn triệu bẩy trăm bẩy mươi nghìn đồng).

5

  1. Về án phí:
  2. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Quang D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:
  2. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND phường Trần Phú, tp Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Trần Kiên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 140/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Dũng TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger