|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lương Văn Cẩu
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 6 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 240/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Bùi Tấn N, sinh năm: 1979 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 4, Khóm Hoà Long 4, thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, An Giang
2. Bị đơn: Chị Bùi Hồng G, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 4, Khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 24/6/2024, nguyên đơn anh Bùi Tấn N trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Bùi Hồng G do tìm hiểu và cùng thống nhất đi đến hôn nhân vào năm 2019. Anh và chị G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, hay cự cải, tính tình không hợp. Do chị G không quan tâm đến cuộc sống gia đình, đồng thời chị G chơi số đề gây nợ, cha mẹ anh nhiều lần góp ý nhưng G không thay đổi, hiện G đã bỏ đi nơi khác. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Bùi Hồng G.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Bùi Thị Như H, sinh năm: 2019. Hiện cháu H đang sống với anh N. Sau ly hôn anh N yêu cầu nuôi cháu H, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Bùi Hồng G: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Bùi Hồng G vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của anh N .Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của chị Bùi Hồng G tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì chị Bùi Hồng G hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở Tổ D, Khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang, nhưng chị Bùi Hồng G vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan.Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Bùi Tấn N, cho anh N ly hôn với chị G. Về con chung: Đề nghị giao cháu H cho anh N nuôi dưỡng, chị G không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Hồng G là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị Bùi Hồng G vẫn vắng mặt không lý do. Còn anh Bùi Tấn N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Tấn N và chị Bùi Hồng G theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Bùi Tấn N và chị Bùi Hồng G kết hôn với nhau vào năm 2019, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo đơn anh N trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, hay cự cải, tính tình không hợp. Do chị G không quan tâm đến cuộc sống gia đình, đồng thời chị G chơi số đề gây nợ, cha mẹ anh nhiều lần góp ý nhưng G không thay đổi, hiện G đã bỏ đi nơi khác. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Bùi Hồng G. Xét thấy với thời gian chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng chị Bùi Hồng G cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của anh N. Hiện tại anh N xác định không còn tình cảm với chị Bùi Hồng G. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh N cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là anh vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của anh N và chị G không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2]Về con chung: Có 01 con chung tên là Bùi Thị Như H, sinh năm: 2019. Hiện cháu H đang sống với anh N. Sau ly hôn anh N yêu cầu nuôi cháu H, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu H từ nhỏ đến nay sống với anh N, được anh N và gia đình chăm sóc. Do đó để tạo điều kiện cho anh N chăm sóc cháu, nghĩ nên để anh nguyên được nuôi cháu H là phù hợp, chị G không cấp dưỡng nuôi con do anh N không yêu cầu chị G cấp dưỡng. Anh N phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi chị thực hiện quyền này.
[2.3]Về tài sản và nợ chung: anh Bùi Tấn N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4]Về án phí: Do yêu cầu của anh Bùi Tấn N được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Tấn N. Cho ly hôn giữa anh Bùi Tấn N và chị Bùi Hồng G.
2.Về con chung: Có 01 con chung tên là Bùi Thị Như H, sinh năm: 2019. Hiện cháu H đang sống với anh N. Sau ly hôn anh N được nuôi dưỡng cháu H, chị G không cấp dưỡng nuôi con. Anh N phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi chị thực hiện quyền này.
3.Về tài sản và nợ chung: Anh Bùi Tấn N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Bùi Tấn N phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004787 ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
5.Về kháng cáo: Anh Bùi Tấn N và chị Bùi Hồng G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
6.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); - TAND tỉnh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THA.DS huyện; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 140/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Tấn N. Cho ly hôn giữa anh Bùi Tấn Nn và chị Bùi Hồng G
