|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HS-ST
Ngày 11-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm cỗ:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, bà Hà Thị Thanh Liêm.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phổ Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QDXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1993, tại: U; Nơi ĐKNKTT: Tổ A, phường Q, thành phố S; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hoàng Thị H; có vợ là Phạm Thị Tú A (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Vũ Huyền L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1990. Địa chị: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/3/2024, chị Vũ Huyền L có đơn trình báo đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S về việc Nguyễn Hoàng T có hành vi uy hiếp, đe doạ sẽ đăng tải những hình ảnh, video riêng tư, nhạy cảm của Vũ Huyền L lên mạng xã hội Facebook, chị L đề nghị Cơ quan Công an điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật. Kèm theo đơn trình báo chị L giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao: 0982.426.xxx; 02 File video quay lại cảnh Nguyễn Hoàng T.
Ngày 21/3/2024 Nguyễn hoàng T2 bị bắt giữ khẩn cấp, tại cơ quan điều tra T2 khai nhận như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Hoàng T đã nảy sinh ý định đe doạ sẽ đăng tải các hình ảnh, tin nhạy cảm liên quan đến chị Vũ Huyền L trước đây lên mạng xã hội Facebook để yêu cầu chị L chuyển tiền cho T. Trong hai ngày 19/3/2024 và 20/3/2024, T đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện thoại cho chị L yêu cầu chị L chuyển cho T 50.000.000 đồng, nếu không T sẽ đăng các hình ảnh của chị L lên mạng xã hội Facebook. Lo sợ T sẽ đăng tải các nội dung nhạy cảm, riêng tư liên quan đến mình lên mạng xã hội gây ảnh hưởng đến danh dự và hạnh phúc gia đình nên L đồng ý gặp T vào tối ngày 20/3/2024 để chuyển tiền cho T và xoá toàn bộ nội dung nhạy cảm, riêng tư mà T đang lưu giữ. Để có đủ số tiền T yêu cầu, chị L đã hỏi vay chị Đặng Phước Diệp Diệp A1, cư trú tại tổ F, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La, chị Diệp A1 đã cho chị L vay 40.000.000 đồng và nhờ chị Dương Thị Thu H1, cư trú tại tổ D, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La cho chị L vay 10.000.000 đồng, chị H1 đồng ý và cho chị L vay 10.000.000 đồng.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, chị L mang theo 20.000.000 đồng tiền mặt đến địa điểm mà T hẹn gặp tại khu vực Đảo N giữa hồ S thuộc tổ D, phường T, thành phố S, khi gặp T, chị L đã đưa trước cho T 11.500.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 15.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số [...] của T. Sau khi nhận được tiền, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29C1-198.91 đến cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ tại tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La gặp anh Nguyễn Tuấn C, cư trú tại tổ F, phường Q, thành phố S (là chủ cửa hàng) để mua lại điện thoại, máy ảnh mà trước đây T đã bán cho anh C. Trong đó có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax mà T nói với chị L là đang lưu giữ hình ảnh riêng tư, nhạy cảm liên quan đến chị L. T trả cho anh C tổng số tiền 28.000.000 đồng rồi nhận tài sản và quay lại gặp chị L. Theo yêu cầu của T, chị L đã đưa thêm 8.500.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản thêm 15.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng V số [...] của T, sau khi nhận đủ tiền T đưa chiếc điện thoại Iphone 12
Promax cho chị L để chị L tự xóa hết dữ liệu nhạy cảm liên quan đến chị L trong điện thoại. Chị L đã sử dụng điện thoại di động quay lại việc T cam kết, hứa với chị L không lặp lại hành động đe doạ, chiếm đoạt tiền của L.
Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an thành phố S thu giữ đồ vật, tài liệu, gồm:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO LIBERTY, màu ghi, biển kiểm soát: 29C1- 198.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 051349 của xe mô tô biển kiểm soát 29C1-198.91 mang tên Đỗ Thu H2; số tiền 8.500.000 đồng, do Nguyễn Hoàng T giao nộp.
- - Số tiền 26.500.000 đồng, do anh Nguyễn Tuấn C giao nộp.
Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã yêu cầu Phòng K Công an tỉnh S giám định kỹ thuật số và điện tử đối với: 02 File video do chị Vũ Huyền L giao nộp.
Kết quả tại bản Kết luận giám định số 980/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: 02 File video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.
Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh S giám định tiền đối với số tiền 8.500.000 đồng do Nguyễn Hoàng T giao nộp và 26.500.000 đồng do anh Nguyễn Tuấn C giao nộp.
Kết quả tại bản Kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.
Ngày 30/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã ra Lệnh phong toả số tiền 15.272.829 đồng trong tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) số [...] của Nguyễn Hoàng T.
Đối với hành vi đăng bài viết và ảnh chụp tin nhắn lên mạng xã hội Facebook có nội dung chị L quan hệ tình cảm với nhiều người của Nguyễn Hoàng T vào ngày 27/3/2021. Chị Vũ Huyền L trình bày sau khi đăng tải khoảng 2 giờ thì T đã xóa bài viết trên, sự việc xảy ra đã lâu, tác động không lớn đến cá nhân, gia đình chị L, không gây hậu quả nên không yêu cầu Cơ quan Công an giải quyết. Do đó hành vi này của Nguyễn Hoàng T không đủ yếu tố cấu thành tội Làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự.
Về dân sự: Chị Vũ Huyền L yêu cầu Nguyễn Hoàng T hoàn trả số tiền 50.000.000 đồng T đã cưỡng đoạt, ngày 30/9/2024 gia đình T đã thay mặt Nguyễn Hoàng T trả cho chị Vũ Huyền L số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) (tiền của Nguyễn Hoàng T), chị Vũ Huyền L đã được nhận lại 50.000.000 đồng do Nguyễn Hoàng T chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Nguyễn Tuấn C đề nghị được nhận lại 26.500.000 đồng đã giao nộp
cơ quan CSĐT Công an thành phố S.
Tại bản Cáo trạng số 270/CT-VKSTP ngày 14/8/2024 của Viên kiểm sát nhân dân thành phố S đã truy tố Nguyễn Hoàng T về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106; Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO LIBERTY, màu ghi, biển kiểm soát: 29C1- 198.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 051349 của xe mô tô biển kiểm soát 29C1-198.91 mang tên Đỗ Thu H2.
- + Gõ bỏ phong toả tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng T tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) cho bị cáo Nguyễn Hoàng T.
- + Trả lại cho anh Nguyễn Tuấn C số tiền 26.500.000 đồng.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T số tiền 8.500.000 đồng, gồm 17 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 585 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc ngày 30/8/2024 đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng T thay mặt bị cáo T đã hoàn trả số tiền mà T đã chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại Vũ Huyền L.
Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên toà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà đề nghị được nhận lại số tiền 26.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ hên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại Vũ Huyền L đã được Tòa án triệu đến tham gia phiên tòa nhưng bị hại L đã có đơn đề nghị xét xử vắng. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại L theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3]. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Ngày 20/3/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng T đã có hành vi đe doạ sẽ đăng tải các hình ảnh, tin nhạy cảm liên quan đến chị Vũ Huyền L trước đây lên mạng xã hội để cưỡng đoạt số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) của chị L. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Đơn trình báo của người bị hại Vũ Huyền L.
- - Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
- - Lời khai nhận tội của bị cáo.
- - Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tuấn C.
- - Kết luận giám định số 980/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: 02 File video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.
- - Kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: ngày 19/3/2024 và 20/3/2024, T đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện thoại cho chị L yêu cầu chị L chuyển cho T 50.000.000 đồng, nếu không T sẽ đăng các hình ảnh nhạy cảm về chị L lên mạng xã hội Facebook. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội nên cần có một mức án nghiêm khắc
tương xứng hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã khắc phục hậu quả trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là liệt sỹ, có mẹ đẻ được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen và bản thân bị cáo trong quá trình học tập tại trường đại học cũng được tặng thưởng giấy khen, được chính quyền địa phương xác nhận quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên: xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo hưởng án treo vẫn đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần trả tự do cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có công việc ổn định, thu nhập không có, tài riêng không có gì giá trị, do vậy không áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO LIBERTY, màu ghi, biển kiểm soát: 29C1- 198.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 051349 của xe mô tô biển kiểm soát 29C1-198.91 mang tên Đỗ Thu H2, trú tại: H, L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Hoàng T do T mua lại từ năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu. T không sử dụng xe vào việc phạm tội, cần trả lại xe cho bị cáo.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, là tài sản của Nguyễn Hoàng T, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T, bởi lẽ: Quá trình thực hiện hành vi nhắn tin đe doạ chị Linh T3 dùng điện thoại IP 6 mượn của Nguyễn Tuấn C và sau đó đã trả lại cho anh C, anh C không biết T3 đã mượn điện thoại dùng vào
việc phạm tội. Cơ quan Điều tra đã yêu cầu C nộp điện thoại để kiểm tra nhưng trong điện thoại không còn dữ liệu nên đã trả lại cho C. Do không còn nhu cầu sử dụng C đã bán chiếc điện thoại đó cho cửa hàng điện thoại nhưng không nhớ địa chỉ.
- + Đối với tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng T tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V), trong tài khoản có số tiền 15.272.829 đồng, bị cáo T đã khắc phục toàn bộ cho bị hại, bị cáo không còn nghĩa vụ hay trách nhiệm đối với khoản dân sự nào. Do vậy, cần gỡ bỏ phong toả đối với tài khoản trên để bị cáo sử dụng và định đoạt.
- + Số tiền 26.500.000 đồng là tiền do anh Nguyễn Tuấn C giao nộp, nguồn gốc số tiền là của bị cáo đi mua (chuộc) lại chiếc điện thoại T đã bán trước đó cho Nguyễn Tuấn C. Bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại L đầy đủ, do vậy số tiền này cần hoàn trả lại cho anh Nguyễn Tuấn C.
- + Số tiền 8.500.000 đồng là của bị cáo đã chiếm đoạt từ bị hại L, do bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền cho chị L nên cần trả số tiền trên cho bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà, ngày 30/8/2024 đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng T thay mặt bị cáo T đã hoàn trả số tiền mà T đã chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại Vũ Huyền L.
[9]. Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 11/9/2024).
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Hoàng T đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Nguyễn Hoàng T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Hoàng T.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thí thực hiện
theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 585 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng T thay mặt bị cáo hoàn trả số tiền 50.000.000 đồng mà T đã chiếm đoạt cho bị hại Vũ Huyền L. (Chị L đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO LIBERTY, màu ghi, biển kiểm soát: 29C1- 198.91; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 051349 của xe mô tô biển kiểm soát 29C1-198.91 mang tên Đỗ Thu H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim điện thoại nhà mạng Viettel số thuê bao 0982.426.xxx.
- + Gỡ bỏ lệnh phong toả tài khoản số 236/LPT-ĐTTH, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của cơ quan cảnh sát Điều tra công an thành phố S đối với tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng T tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V).
- + Trả lại cho anh Nguyễn Tuấn C số tiền 26.500.000 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T số tiền 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng)
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2024. giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tuấn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án. Bị hại Vũ Huyền L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Bích Hồng |
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T
