Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 11 - 8 - 2023

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

--

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đặng Thanh Liêm.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 2001. (Có mặt).

    Đăng ký thường trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

    Địa chỉ liên lạc: ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Bị đơn: ông Phạm Trọng N, sinh năm 1997. (Vắng mặt).

    Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 09/4/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Phạm Trọng N tiến đến hôn nhân vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 15/11/2019. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/01/2019. Đến tháng 6 năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên cãi vã nhau. Mặc dù được gia đình hai bên hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 01 năm 2022 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy, không còn tình cảm với ông N nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Về hôn nhân: bà H yêu cầu được ly hôn với ông N.
  • Về con chung: bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/01/2019, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
  • Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Phạm Trọng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:
    • Về hôn nhân: bà H được ly hôn với ông N.
    • Về con chung: giao cháu Phạm Nguyễn Đăng K cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông N không cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
    • Về án phí: bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Trọng N có địa chỉ tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Phạm Trọng N đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông N đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Phạm Trọng N chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 59, ngày 15/11/2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà H, ông N phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3.1] Xét thấy, bà H với ông N sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã và sống ly thân từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay.

[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt cho ông N thông báo hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông N và bà H hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông N không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với bà H.

[3.3] Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 19/4/2023, được đại diện Ban ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang cung cấp như sau: chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Phạm Trọng N chung sống với nhau từ năm 2018 và có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/01/2019. Quá trình chung sống, chị H và anh N có mâu thuẫn và ly thân từ tháng 01 năm 2022 đến nay. Anh N đi làm ăn xa nhưng có về thăm nhà. Cháu K đang sống chung với chị H.

[4] Từ những nhận định tại mục [3], Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021. Mặc dù được gia đình hai bên hòa giải, bà H đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng vợ chồng vẫn thường cãi vã và sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà H cho rằng giữa 02 người không còn tình nghĩa vợ chồng nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông N. Xét, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông N mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ H.

[5] Về quan hệ con chung: bà H và ông N có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/01/2019. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K; không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu K đang sống ổn định với bà H. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của cháu K, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H; giao cháu K cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H.
    1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Phạm Trọng N.

      Giấy chứng nhận kết hôn số 59, ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Phạm Trọng N không còn giá trị pháp lý.

    2. Về con chung: bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Phạm Trọng N có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/01/2019.

      Giao cháu Phạm Nguyễn Đăng K cho bà Nguyễn Thị Mỹ H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu K đang sống chung với bà H). Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.

      Nguyễn Thị Mỹ H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Trọng N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

    3. Về tài sản chung: không có.
    4. Về nợ chung: ghi nhận bà H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Phạm Trọng N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011714 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà H đã nộp đủ).
  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND huyện Thoại Sơn;

- Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;

- Các đương sự (Để thi hành);

- Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (để biết);

- Lưu Văn phòng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 140/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H được ly hôn với anh N, chị H được nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng. Tìa sản chung và nợ chung không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger