Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 140/2024/HS-ST

Ngày: 09-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang bảo

Bà Trần Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Q ngày 01 tháng 6 năm 1993; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Địnhchỗ ở hiện nay: Số B đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Địnhsố căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn K Phạm Thị X đình có 03 chị em, bị cáo là thứ ba; vợ: Phạm Thị Vân A 01 con; nhân thân: Ngày 16-4-2021, Trần Văn QTòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Chấp hành xong hình phạt ngày 10-3-2022; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 14-4-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố NBị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Bùi Văn Tanh Phạm Hữu H(không triệu tập đến phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05-4-2024 tổ công tác của Công an phường C tại khu vực Nghĩa trang C, đường L, phường C, thành phố N hiện Trần Văn Q1 xe máy biển kiểm soát 72C2-547.12 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qthả từ tay trái xuống đất cạnh chỗ Q01 gói giấy bạc màu trắng. Tổ công tác đã phát hiện thu giữ, mở kiểm tra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Qđó là gói Heroine). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn Q2 ra còn tạm giữ của Qchiếc xe máy biển kiểm soát 72C2-54712 đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của bị cáo Trần Văn Q3 Bản kết luận giám định số 694/KL-KTHS ngày 10-4-2024 kết luận: Mẫu dạng bột cục màu trắng trong 01 gói được bọc bằng lớp giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine; có khối lượng là 0,133 gam (không phẩy một trăm ba mươi ba gam).

Bản Cáo trạng số 141/CT-VKSND-TPNĐ ngày 21-6-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Văn Q4: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q5 thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn Q6 phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q7 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q8 21 tháng tù đến 24 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 694/KL-KTHS.

Bị cáo Trần Văn Q9 lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q10 có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Q11 đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05-4-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 05-4-2024; Bản kết luận giám định số 694/KL-KTHS ngày 10-4-2024 của Phòng K2Công an tỉnh Nlời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ ngày 05-4-2024, tại khu vực nghĩa trang C, đường L, phường C, thành phố N bị cáo Trần Văn Q5 có hành vi tàng trữ trái phép 0,133 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,133 gam (không phẩy một trăm ba mươi ba gam) nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q5 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Văn Q10 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q12 trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố NBản thân bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tuy nhiên, bị cáo lại không lấy đó làm bài học mà tiếp tục cố ý tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Văn Q10 có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn Q13 vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 72C2 – 547.12 là tài sản của anh Trần Văn N năm 1991, trú tại xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Nam Địnhanh Nlàm xa nên giao cho anh Đinh Thanh K1 năm 1982, trú tại số nhà A đường N, phường T, thành phố N họ quản lý). Anh K1biết Q14 mua ma túy sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nbàn giao xe cho gia đình anh N1 lý.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Văn Q15 liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ntách ra để điều tra, xử lý sau.

[8] Về án phí:

Bị cáo Trần Văn Q16 án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q7 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn Q17(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-4-2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy tại phong bì niêm phong số 694/KL-KTHS. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-6-2024 giữa Công an thành phố Nvà Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)

  3. Án phí hình sự sơ thẩm:

    Bị cáo Trần Văn Q18 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Trần Văn Q19 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Văn Q19 quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Kim Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 140/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Quý phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger