Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 140/2023/HS-ST

Ngày 06 tháng 12 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và bà Trần Thị Ánh Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lâm Văn M, sinh năm 1997, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ G, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật Giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M1, sinh năm 1971 và bà Lâm Thị Yến T, sinh năm 1975; chưa vợ con.

Tiền sự: không.

Tiền án: ngày 08/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên kết án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong thử thách, nhưng chưa đóng án phí.

Nhân thân: Ngày 11/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đang chấp hành.

Bị cáo Lâm Văn M có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Lý Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 13/7/2023, nhận được tin báo, tại khu vực tổ A, ấp M, xã V, thành phố C. Lâm Văn M có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy, Công an xã V mời Mỹ về trụ sở làm việc, kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của M có bao thuốc lá hiệu Bastion, cuộc tròn, bên trong có 01 túi nylon màu xanh, sọc trắng hàn kín chứa tinh thể màu trắng. M khai ma túy đá, do M nhờ người bạn nghiện (không rõ lai lịch) mua dùm với số tiền 900.000 đồng. M sử dụng dần còn lại cất giấu, chưa sử dụng hết thì bị phát hiện như nêu trên, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nylon màu xanh, sọc trắng, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng (giám định là ma túy, loại Methamphetamine), đã bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự.

Căn cứ Kết luận giám định số 138/KL-KTHS (MT-GT) ngày 11/8/2023 của Phòng K, Công an tỉnh A xác định: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,6448 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Lâm Văn M về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Cáo trạng số 135/CT-VKSCĐ-HS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Lâm Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn M đã bị kết án chưa xóa án tích, tiếp tục tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Văn M từ 02 (hai) năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

- Về trách nhiệm dân sự: Không

Đối với người bạn nghiện mua ma túy dùm Mỹ và người bán ma túy không rõ lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung

[3] Tại phiên tòa bị cáo Lâm Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích và động cơ phạm tội cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2023, Công an xã V phát hiện bắt quả tang Lâm Văn M cất giấu ma túy để sử dụng, kết luận giám định xác định ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,6448 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 (một) năm đến 05 (năm) tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép 1,6448 gam Methamphetamine để sử dụng với lỗi cố ý; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn M đã bị kết án chưa xóa án tích, tiếp tục tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác: Người bạn nghiện mua ma túy dùm Mỹ và người bán ma túy không rõ lai lịch, chưa làm việc được. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điềm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn M 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì vụ (số: 138/KL-KTHS (MT-GT) ngày 11/8/2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Văn Â;

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lâm Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lâm Văn M có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 140/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt bị cáo 02 năm tù giam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger