TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:140/2023/HS-ST Ngày 06-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Toàn và ông Phạm Công Gia.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
- Đặng Văn Phương T (Tên gọi khác: Cu S), sinh năm 1993, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M, sinh năm 1964, đã chết và bà Trần Thị K, sinh năm 1965; vợ, con: Không;
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- - Ngày 05/02/2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Đặng Văn Phương T 02 năm tù về tội cưỡng đoạt tài sản.
- - Ngày 23/8/2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Đặng Văn Phương T 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 04 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016.
- - Ngày 29/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Đặng Văn Phương T 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2018.
- - Ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Đặng Văn P T 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 17/9/2023 đến nay (Có mặt).
- Nguyễn Phú B, sinh năm 2001 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1977; vợ, con: Không;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 17/9/2023 đến nay (Có mặt).
- Người bị hại:
Ông Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ F, Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Trần Chí T1, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
- Nguyễn Cao C1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn Phương T, sinh năm 1993, ngụ ấp B, xã P và Nguyễn Phú B, sinh năm 2001, ngụ ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội và là đối tượng nghiện ma túy.
Khoảng 14 giờ ngày 17/9/2023, Đặng Văn Phương T và Nguyễn Phú B đi bộ trên đường N thuộc khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1973, ngụ tổ F, khu D, thị trấn T, T, B phát hiện có một lồng chim và một con chim chào mào đang treo trước nhà không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định trên, Nguyễn Phú B đi bộ vào trong nhà và lén lút lấy lồng chim ra bên ngoài, sau đó T và B đi tìm chỗ để bán con chim và lồng chim. Sau đó, T, B mang lồng chim đến bán cho ông Trần Chí T1, sinh năm 1984, ngụ khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị anh Nguyễn Cao C1 (cháu ông Đ) phát hiện đây là tài sản do T và B trộm cắp của ông Nguyễn Phương Đ, sợ bị phát hiện T, B bỏ chạy về hướng ngã 4 đèn xanh đèn đỏ thị trấn T thì bị Công an thị trấn T tuần tra, phát hiện bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn Phương T và Nguyễn Phú B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: Một lồng chim và một con chim chào mào.
Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 con chim chào mào, 01 lồng chim, có tổng giá trị tài sản là 2.250.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 154/CT-VKSTP-ĐN ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Đặng Văn Phương T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Phú B về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Các bị cáo Đặng Văn Phương T, Nguyễn Phú B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về mức hình phạt:
- - Áp dụng: Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Phú B. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú B từ 10 (Mười) đến 12 (Mười hai) tháng tù.
- - Áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đặng Văn Phương T. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Phương T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả lại cho ông Nguyễn Phương Đ 01 con chim chào mào, 01 lồng chim.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã mô tả, các bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại người làm chứng, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 17/9/2023 tại tổ F, khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đặng Văn Phương T và Nguyễn Phú B có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 lồng chim, 01 con chim chào mào của ông Nguyễn Phương Đ có tổng giá trị tài sản 2.250.000 đồng.
Bị cáo Đặng Văn Phương T là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích.
Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Văn Phương T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phú B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
5] Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành. Do đó, khi quyết định hình phạt, cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.
[5] Về các biện pháp tư pháp:
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả lại cho ông Nguyễn Phương Đ 01 con chim chào mào, 01 lồng chim là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Phú B.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/9/2023.
- Căn cứ vào: Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đặng Văn Phương T.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Phương T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Phương T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/9/2023.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 140/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Phương T và đồng phạm bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản".
