|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/DS-PT. Ngày: 03/6/2024. V/v “Tr/c quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Mạnh;
Ông Võ Minh Triều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 5 và ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số: 97/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐPT-DS ngày 08 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1959 – Vắng mặt;
- Địa chỉ: Ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T:
- Bà Võ Thanh Phụng H, sinh năm 1966 – Có mặt,
- Địa chỉ: Số B, đường P, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973 - Có mặt;
- Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Trần Hoàng D – Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C – Có mặt;
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967 - Có mặt;
- Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn C.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/05/2019, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Ngọc T và các lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2019, ông Phạm Ngọc T có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, diện tích là 10,5 công tầm 03 mét, thời điểm này ông T ở thành phố P nên ông T nhờ ông Nguyễn Văn C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm, từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1 đến nay ông T trực tiếp quản lý sử dụng đất với mục đích xây dựng nhà ở và nuôi tôm, cua, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Nguyễn Văn C đứng tên và cất giữ. Nhiều lần ông T yêu cầu ông C lập thủ tục sang tên cho ông T nhưng ông C không đồng ý. Ông T khởi kiện yêu cầu ông C lập và ký các thủ tục sang tên lại cho ông T toàn bộ diện tích đất mà trước đây ông T đã nhận chuyển nhượng của ông H1 do ông C đứng tên giùm, ông T sẽ hỗ trợ cho ông C 150.000.000 đồng.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Vào tháng 10/2019, ông C là người trực tiếp thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, diện tích đất chuyển nhượng là 10 công 2 góc 3, việc chuyển nhượng có viết giấy tay, có ông N và ông Lê Văn S chứng kiến. Giá 67.000.000đ/01 công tầm 3 mét (ghi vào giấy bán đất là 37.000.000đ/01 công tầm 3 mét), diện tích đất chuyển nhượng là 10 công 2 góc 3, tổng số tiền là 716.838.000 đồng. Ông là người trực tiếp trả tiền cho ông H1 02 lần: Lần 1, vào ngày 11/10/2019 (đặt cọc) 500.000.000 đồng (ghi vào giấy bán đất là 400.000.000 đồng); trong thời gian chờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H1 có mượn 50.000.000 đồng; lần 2, trả vào khoảng cuối tháng 10/2020 số tiền là 175.838.000 đồng là đủ số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Diện tích đất được cấp giấy là 13.866,2 m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01469 do UBND huyện A cấp ngày 15/10/2020. Diện tích đất tranh chấp này là của ông C nhận chuyển nhượng của ông H1, do đó ông không chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn; yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp này cho ông; yêu cầu giữ nguyên căn nhà, ông C trả lại cho ông T giá trị căn nhà là 300.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà Xanh xác định diện tích đất tranh chấp này là của ông Nguyễn Văn C nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H1. Bà không chấp nhận yêu cầu của
ông T, chấp nhận yêu cầu của ông C, đồng ý để ông C trả lại cho ông T giá trị căn nhà là 300.000.000 đồng.
* Tại Bản án sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T. Xác định diện tích đất tranh chấp đo thực tế theo Tờ trích đo số: TĐ 109-2023 ngày 08/09/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A 13.941,1m² là của ông Phạm Ngọc T.
Buộc ông Nguyễn Văn C giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CH01469 ngày 15/10/2020, thửa đất số 01, tờ bản đồ số 121-2020, diện tích 13.866,2m² và ký các thủ tục theo quy định của pháp luật để sang tên lại cho ông Phạm Ngọc T.
Trường hợp ông Nguyễn Văn C không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, không ký các thủ tục sang tên cho ông T thì ông T có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thi hành Bản án theo quy định của pháp luật để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn C.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo luật định.
* Ngày 10/11/2023, ông Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị xem xét hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh vì bản án vi phạm nghiêm trọng về nội dung và tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Giao hồ sơ về Tòa sơ thẩm xử theo hướng trả lại phần đất tranh chấp mà ông đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/10/2020.
* Ngày 07/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS với nội dung:
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử theo hướng hủy toàn bộ Bản án số 97/2023/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật vì bản án sơ thẩm vi phạm về thủ tục tố tụng xác định không đúng mối quan hệ tranh chấp, giải quyết ngoài phạm vi đơn yêu cầu, việc đánh giá, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn đến vi phạm nghiêm trọng về mặt nội dung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người liên quan.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện . Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Nguyên đơn thống nhất kết quả tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và giá trị tài sản trên đất theo chứng thư thẩm định giá tại Tòa án sơ thẩm.
- - Bị đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn có ý kiến: Tòa án sơ thẩm đã vi phạm về thủ tục và nội dung: Biên bản ghi lời khai của người làm chứng chỉ khai là nghe nói lại không trực tiếp chứng kiến; Bị đơn yêu cầu triệu tập ông Nguyễn Văn L là người trực tiếp viết giấy thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông H1 với ông C có sự chứng kiến của ông S, ông N1 nhưng Tòa sơ thẩm không triệu tập làm rõ nội dung; Biên bản phân chia tài sản giữa ông T và bà X phù hợp Luật Hòa giải cơ sở 2015 nhưng không được Tòa xem xét, chấp nhận. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông C, hủy bản án sơ thẩm giao về sơ thẩm giải quyết lại, xem xét trả lại cho ông C diện tích đất tranh chấp mà ông C đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn thống nhất kết quả tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và giá trị tài sản trên đất theo chứng thư thẩm định giá tại Tòa án sơ thẩm.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Bà Nguyễn Thị X có ý kiến: Bà cho ông C mượn tiền để nhận chuyển nhượng đất từ ông H1. Ông C là người chuyển nhượng đất, không phải ông T. Đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của ông C.
- - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- + Việc tuân theo theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về hướng giải quyết vụ án:
- Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh và quá trình kiểm sát xét xử tại giai đoạn phúc thẩm, xét thấy những thiếu sót, vi phạm của Tòa án sơ thẩm có thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm, không làm ảnh hưởng về nội dung giải quyết vụ án và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự nên xét không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại như nội dung kháng nghị của VKSND huyện An Minh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn; căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa Bản án sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Buộc ông Phạm Ngọc Tâm g trả quyền sử dụng đất có diện tích 13.866,2 m² (thực tế 13.941,1 m²) cho ông Nguyễn Văn C. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C trả cho ông Phạm Ngọc T giá trị tài sản trên đất là công trình xây dựng, giá trị cây trồng trên đất, tổng cộng là 460.809.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục:
[1.1]. Ông Nguyễn Văn C kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên kháng cáo hợp lệ.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn C lập và ký thủ tục sang tên diện tích đất 13.866,2 m² (đo thực tế là 13.941,1 m²) tọa lạc tại Ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A hiện ông C đang đứng tên sang tên cho ông T. Như vậy, yêu cầu của ông T đối với ông C là chuyển (điều chỉnh) quyền sử dụng đất từ tên ông C sang tên ông T trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 664586 do ông C được UBND huyện A cấp ngày 15/10/2020.
Ông C có yêu cầu phản tố yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng đất cho ông, vì theo ông C xác định: ông C là người mua đất bằng tiền mượn của bà X và hiện ông C đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Yêu cầu này của ông C đối với ông T là đòi lại tài sản là quyền quản lý, sử dụng diện tích đất mà ông C đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng đang bị ông T chiếm giữ.
Như vậy, yêu cầu của hai bên (một bên đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, một bên đang trực tiếp quản lý sử dụng đất) đều liên quan đến việc xác định quyền được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” là chưa chính xác, chỉ phản ánh được yêu cầu phản tố của bị đơn, chưa bao hàm được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, cấp phúc thẩm sửa quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nhằm đảm bảo việc xác định mối quan hệ tranh chấp trong vụ án được chính xác, đầy đủ, đúng quy định pháp luật, phù hợp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn.
[2].Về nội dung:
[2.1].Theo ông Phạm Ngọc T xác định: Năm 2019, ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, diện tích là 10,5 công tầm 03 mét, thời điểm này ông T ở thành phố P nên ông T nhờ ông Nguyễn Văn C đứng tên giùm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1 đến nay ông T trực tiếp quản lý sử dụng đất, xây dựng nhà ở và nuôi tôm, cua, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Nguyễn Văn C đứng tên và cất giữ. Nhiều lần ông T yêu cầu ông C lập thủ tục sang tên cho ông T nhưng ông C không đồng ý.
[2.2]. Bị đơn ông Nguyễn Văn C xác định: Vào tháng 10/2019, ông C là người trực tiếp thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, việc chuyển nhượng có viết giấy tay, có ông N1 và ông Lê Văn S chứng kiến; Giá chuyển nhượng là 67.000.000đ/công tầm 3 mét (ghi vào giấy bán đất là 37.000.000 đ/công tầm 3 mét), diện tích đất chuyển nhượng là 10 công 2 góc 3, tổng số tiền là 716.838.000 đồng. Ông C trực tiếp trả tiền cho ông H1. Diện tích đất được cấp giấy là 13.866,2 m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 664586 do UBND huyện A cấp ngày 15/10/2020. Tiền chuyển nhượng là do ông mượn của bà Nguyễn Thị X (chị gái của ông). Sau khi ông chuyển nhượng đất, thì bà X và ông T (thời điểm này ông T đang chung sống với bà X) từ P về đất liền, do ông T không phải là người địa phương và chưa có đất nên ông cho ông T và bà X xây dựng nhà trên đất của ông, ông T bỏ tiền ra xây dựng nhà và trồng cây trên đất. Nay yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng diện tích đất này cho ông; ông C yêu cầu giữ nguyên hiện trạng căn nhà, đồng ý trả cho ông T giá trị công trình xây dựng trên đất và cây trồng trên đất theo giá ghi nhận tại Chứng thư định giá ngày 14/08/2023 của Công ty TNHH Đ1.
[2.3]. Xét kháng cáo của bị đơn và nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, đối chiếu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy:
Nguyên đơn ông T khởi kiện cho rằng năm 2019, ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, diện tích là 10,5 công tầm 03 mét tọa lạc tại Ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Do thời điểm này ông T đang ở thành phố P nên ông T nhờ ông Nguyễn Văn C ra P nhận tiền đem về mua đất và đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông T không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao dịch giữa ông T với ông H1, việc giao nhận tiền giữa hai bên, hay tài liệu văn bản của cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực việc chuyển nhượng giữa ông T với ông H1 đối với diện tích đất tranh
chấp. Đồng thời, ông T cũng không cung cấp được chứng cứ thể hiện ông T nhờ ông C đứng tên giùm diện tích đất ông C chuyển nhượng từ ông H1. Lời khai được Tòa án sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án của các ông bà: Trịnh Thị L1, Hồ Chí T1, Dương P, Trương Thị T2, Lê Thị X1, Dương Văn C1, Nguyễn Thị H2, Lê Văn Đ, Võ Văn N2 cũng không thể hiện họ là những người chứng kiến trực tiếp việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay chứng kiến việc giao nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 với ông H1, hoặc chứng kiến việc ông T1 nhờ ông C đứng tên giùm diện tích đất tranh chấp giữa hai ông hiện nay.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Văn C xác định, diện tích đất tranh chấp giữa hai bên hiện nay được ông C chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H1 vào năm 2019 thỏa thuận bằng giấy tay, sau đó tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại UBND xã Đ, huyện A, đến ngày 15 tháng 10 năm 2020 ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lời khai của ông C phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn H1, theo ông H1 thừa nhận ông có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông C để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng thể hiện ông C được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 664586 ngày 15/10/2020 theo trình tự, thủ tục quy định đối với diện tích đất 13.866,2 m², tọa lạc tại ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Ông C cũng lý giải về số tiền chuyển nhượng đất là do ông mượn của bà X (chị gái của ông) nên thời điểm bà X và ông T1 từ P về đất liền (ông T1 đang chung sống với bà X) chưa có nơi ở và chưa có đất nên ông C cho ông T1 và bà X xây dựng nhà trên đất của ông, ông T1 là người bỏ tiền ra xây dựng nhà.
Tuy nhiên, ông H1 cũng có lời khai cho rằng ông C là người đứng tên giùm ông T1 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 là người bỏ tiền ra mua đất, ông Tâm giao tiền cho ông H1. Lời khai này phù hợp với trình bày của ông T1. Như vậy, bản thân ông H1 có sự mâu thuẫn về lời khai. Song, đối với lời khai của ông H1 trình bày nội dung giống như ý kiến của ông T1 thì cả ông H1 và ông T1 đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh phù hợp với lời trình bày của mình.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều xác định trên đất tranh chấp có công trình xây dựng là căn nhà của ông T1 bỏ tiền ra xây dựng và cây trồng do ông T1 trồng. Hiện trạng không thay đổi so với Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 29/06/2023 và Tờ trích đo địa chính ngày 08/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, đồng thời hai bên cũng thống nhất về giá trị tài sản trên đất như kết quả đã định giá tại Chứng thư định giá ngày 14/08/2023 của
Công ty TNHH Đ1.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị X không có yêu cầu độc lập trong vụ án này; tại phiên tòa phúc thẩm bà X xác định: Bà là chị của ông C, bà cho ông C mượn tiền để nhận chuyển nhượng diện tích đất từ ông H1. Ông C là người chuyển nhượng đất, không phải ông T1. Khi bà cùng ông T1 từ P về, do ông T1 không phải người địa phương, chưa có đất nên ông C cho cất nhà trên đất để bà sống cùng ông T1. Đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của ông C.
Từ những phân tích trên thấy rằng: Ông T1 khởi kiện yêu cầu ông C phải chuyển quyền sử dụng đất từ tên ông C sang tên ông T1 vì ông T1 là người chuyển nhượng đất nhưng ông T1 không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ. Bị đơn – ông C có yêu cầu phản tố yêu cầu ông T1 phải trả quyền sử dụng diện tích đất hiện ông T1 đang quản lý, sử dụng. Căn cứ ông C đưa ra về nguồn gốc diện tích đất này do ông C trực tiếp nhận chuyển nhượng từ ông H1 và đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông C. Tòa án sơ thẩm đã giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa xem xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết, tài liệu, chứng cứ trong vụ án, giải quyết chưa phù hợp quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn.
Theo nội dung kháng cáo của bị đơn và nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm về thủ tục và nội dung, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại để xem xét buộc nguyên đơn trả đất cho bị đơn. Hội đồng xét xử, thấy rằng: Như đã phân tích ở trên, Tòa án sơ thẩm có thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án, xác định chưa đúng quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án, chưa xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng bản chất của vụ án. Tuy nhiên, xét thấy những thiếu sót của cấp sơ thẩm là khắc phục được tại cấp phúc thẩm, việc khắc phục là tuân thủ quy định pháp luật và đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của đương sự nên việc hủy án bản án sơ thẩm dẫn đến kéo dài vụ án là không cần thiết. Và tại phiên tòa, các bên cũng xác định hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có sự thay đổi, bị đơn yêu cầu nguyên đơn trả lại quyền sử dụng đất và thống nhất tự nguyện trả giá trị tài sản trên đất cho nguyên đơn theo kết quả thẩm định giá của cơ quan chuyên môn. Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến thay đổi về nội dung kháng nghị của cấp sơ thẩm, xét thấy không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm như nội dung kháng cáo và kháng nghị đã nêu, đề nghị chấp nhận một phần nội
dung kháng nghị, một phần nội dung kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn C và một phần quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Ngọc T, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Văn C, buộc ông T trả cho ông C quyền sử dụng đất có diện tích 13.866,2m² (đo đạc thực tế là 13.941,1m²) theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/6/2023 của TAND huyện An Minh, Tờ trích đo số: TĐ 109-2023 (276-1) ngày 08/09/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A và Chứng thư định giá ngày 14/08/2023 của Công ty TNHH Đ1. Ông C được quyền quản lý toàn bộ công trình xây dựng và cây trồng trên đất; ghi nhận sự tự nguyện của ông C đồng ý trả cho ông T giá trị công trình xây dựng và cây trồng trên đất theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Đ1, tổng số tiền là 460.809.000 đồng.
[3].Về án phí:
[3.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Phạm Ngọc T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định pháp luật.
- - Yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn C được chấp nhận nên không phải chịu án phí phản tố.
- Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 460.809.000 đồng trả giá trị tài sản trên đất cho ông Phạm Ngọc T; án phí phải chịu là: [ 20.000.000đ + (4% x 60.809.000đ) ] = 22.432.360 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm (phản tố) đã nộp theo Biên lai số 0001304 ngày 05/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Ông C còn phải nộp án phí là 22.132.360 đồng.
[3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn C không phải nộp. Được hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005033 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
[4]. Về chi phí tố tụng:
Chi phí tố tụng là 9.199.088 đồng. Trong đó, phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.799.088 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000339 ngày 12/09/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M và phí thẩm định giá tài sản là 4.400.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000049
ngày 07/09/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1. Ông Nguyễn Văn C tự nguyện chịu, ông C đã nộp xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn C.
Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Sửa Bản án sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng: Điều 166 Luật Đất Đai 2013;
Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 12, 14, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C.
- - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn C đối với nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
- + Buộc ông Phạm Ngọc Tâm g trả cho ông Nguyễn Văn C quyền sử dụng đất có diện tích 13.866,2 m² (đo đạc thực tế là 13.941,1m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 664586 do UBND huyện A cấp ngày 15/10/2020 cho ông Nguyễn Văn C.
- + Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn C trả cho ông Phạm Ngọc T giá trị tài sản trên đất, gồm: giá trị công trình xây dựng (Nhà ở, nhà tạm, mái che) số tiền là 423.731.000 đồng; giá trị cây trồng trên đất (03 cây dừa loại A, 14 cây dừa loại C; 02 cây tràm bông vàng; 02 cây xoài; 07 cây mãng cầu ta; 01 cây thiên tuế; 74 cây mãng cầu xiêm; 01 cây điều; 02 cây mai; 14 cây chuối) là 37.078.000 đồng. Tổng cộng là 460.809.000 (Bốn trăm sáu mươi triệu tám trăm lẻ chín ngàn) đồng. (Theo Chứng thư định giá ngày 14/08/2023 của Công ty TNHH Đ1).
- + Ông Nguyễn Văn C được quyền quản lý, sử dụng định đoạt toàn bộ công trình xây dựng, cây trồng trên đất.
- Vị trí, diện tích đất, công trình xây dựng và cây trồng trên đất được thể hiện theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/6/2023 của TAND huyện
An Minh, Tờ trích đo số: TĐ 109-2023 (276-1) ngày 08/09/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A và Chứng thư định giá ngày 14/08/2023 của Công ty TNHH Đ1.
* Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Phạm Ngọc T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định pháp luật.
- + Yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn C được chấp nhận nên không phải chịu án phí phản tố.
- Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 460.809.000 đồng trả giá trị tài sản trên đất cho ông Phạm Ngọc T; án phí phải chịu là: [ 20.000.000đ + (4% x 60.809.000₫) ] = 22.432.360 đồng; được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm (phản tố) đã nộp theo Biên lai số 0001304 ngày 05/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Ông C còn phải nộp án phí là 22.132.360 (Hai mươi hai triệu một trăm ba mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Ông Nguyễn Văn C không phải nộp. Được hoàn trả 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005033 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
* Về chi phí tố tụng:
Chi phí tố tụng là 9.199.088 (Chín triệu một trăm chín mươi chín ngàn không trăm tám mươi tám) đồng. Trong đó, phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.799.088 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000339 ngày 12/09/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M và phí thẩm định giá tài sản là 4.400.000 đồng, theo hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000049 ngày 07/09/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1. Ông Nguyễn Văn C tự nguyện chịu, ông C đã nộp xong.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Hoàng Thị Thu Hường |
Bản án số 140/2024/DS-PT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 140/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
