TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HS-ST Ngày: 02-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn và Bà Nguyễn Thị Lại.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/ QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Quàng Văn V, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn H và con bà: Quàng Thị T; bị cáo có vợ: Lò Thị H1, sinh năm 1982 và có 03 con, con lớn sinh nhất năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Nạn nhân)
Người đại diện theo pháp luật:
- + Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- + Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- + Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Anh Hoàng Văn P uỷ quyền cho anh Hoàng Văn T1 đại diện (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Công ty TNHH T3 do anh Vũ Văn H2, sinh năm 1996 đại diện; địa chỉ: Thôn N, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Quàng Văn V có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 30/01/2020 theo quy định.
Ngày 02/8/2023, Quàng Văn V ký hợp đồng lao động làm lái xe vận chuyển bê tông cho Công ty TNHH T3. Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 13/11/2023, V điều khiển xe ô tô trộn bê tông, BKS 29H - 423.21 chở bê tông đi từ trạm trộn bê tông của Công ty TNHH T3 thuộc khu công nghiệp S - Nội Hoàng đến để đổ bê tông tại khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. V điều khiển xe ô tô đi trên đường gom dân sinh bên trái đường cao tốc Hà Nội - Bắc Giang theo hướng thành phố B đi thành phố B. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe ô tô đến đoạn đường gần cổng 1 khu công nghiệp V thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang). Lúc này, V điều khiển xe ô tô đi ở phần đường bên phải theo hướng đi với vận tốc khoảng 40km/h thì thấy phía trước cùng chiều có xe mô tô BKS 98B1 – 611.91 do ông Hoàng Văn Q điều khiển đi ở phần đường bên phải theo chiều đi của V và xe mô tô này đang bật đèn xi nhan để rẽ trái. Khi đầu xe ô tô do V điều khiển còn cách xe mô tô do ông Q điều khiển khoảng 04 mét thì V thấy xe mô tô của ông Q tắt xi nhan bên trái. V nghĩ là xe mô tô ông Q không rẽ trái nữa nên V tăng tốc xe ô tô, đánh lái cho xe ô tô đi sang phần đường bên trái để vượt xe mô tô ông Q điều khiển. Lúc này, xe mô tô ông Q điều khiển lại bật xi nhan bên trái đồng thời rẽ trái hướng vào đường C khu công nghiệp V thì đầu xe bên phải ô tô do V điều khiển đã va chạm vào sườn bên trái xe mô tô do ông Q điều khiển làm ông Q ngã ra đường. Sau đó phần bánh phía sau bên trái xe ô tô của V chèn, đè qua người ông Q làm ông Q tử vong tại chỗ. Xe ô tô do V điều khiển tiếp tục đi thêm một đoạn rồi đỗ sát lề đường bên phải. Hậu quả, ông Q ngã ra mặt đường và tử vong tại chỗ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường gom dân sinh thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố P, phường T, thị xã V) được trải nhựa thẳng, phẳng, rộng 10,90m được chia thành 04 làn đường xe chạy bởi 03 vạch sơn; vạch sơn màu vàng đứt quãng ở giữa rộng 0,15m; hai vạch sơn nối liền màu trắng ở hai bên, mỗi vạch rộng 0,15m. Theo chiều từ Bắc Giang đi Bắc Ninh, hai đầu đường có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, bên trái đường có lối rẽ vào khu công nghiệp V rộng 18,80m; lối từ khu công nghiệp V ra đường dân sinh rộng 21,40m và có biển báo giao nhau với đường ưu tiên và biển báo cấm ô tô rẽ trái. Hai bên đường, một bên là đường C - Bắc Giang, một bên là khu công nghiệp V.
Phải, trái hiện trường theo chiều từ Bắc Giang đi Bắc Ninh lấy mép đường nhựa bên phải nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn, cột biển báo giao nhau với đường ưu tiên ở bên trái đường là mốc của hiện trường. Dấu vết tại hiện trường để lại:
Vết trượt xước trên mặt đường nhựa bên trái (ký hiệu số 1) kích thước (6,60 x 0,01)m, đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải là 8,30m, cuối vết trượt xước là đầu để chân phía trước bên trái của xe mô tô 98B1 – 611.91 cách mép đường bên phải là 7,32m.
Vết trượt xước trên mặt đường nhựa bên trái đường (ký hiệu số 2) kích thước (5,90x0,01)m, đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải là 8,36m, cuối vết trượt xước là đầu núm tay lái bên trái của xe mô tô 98B1 – 611.91 cách mép đường bên phải là 7,35m.
Khoảng cách từ đầu vết trượt xước (1) đến đầu vết trượt xước (2) là 1,26m.
Xe mô tô 98B1 – 611.91 (ký hiệu số 3) đổ nghiêng bên trái trên mặt đường nhựa bên trái, đầu chếch hướng cao tốc Hà Nội – Bắc Giang, đuôi chếch hướng khu công nghiệp V, trục bánh trước cách mép đường bên phải là 6,50m, trục bánh sau cách mép đường bên phải là 8,46m.
Khoảng cách từ đầu vết trượt xước (2) đến đầu tâm vết trượt lốp (4) là 2,60m.
Vết trượt lốp trên mặt đường nhựa phần đường bên trái (ký hiệu số 4) kích thước (16,70 x 0,50)m, đầu tâm vết trượt lốp cách mép đường bên phải là 9,24m, cuối vết trượt lốp tâm cách mép đường bên phải là 6,30m.
Tử thi Hoàng Văn Q nằm ngửa trên mặt đường nhựa bên trái (ký hiệu số 5), đầu hướng Bắc Giang, gót chân hướng Bắc Ninh, đỉnh đầu cách mép đường bên phải là 7,79m, gót chân phải cách mép đường bên phải là 8,07m.
Khoảng cách từ cuối tâm vết trượt lốp (4) đến trục bánh sau bên trái của xe ô tô 29H – 423.21 là 18,70m.
Xe ô tô 29H – 423.21 đỗ trên mặt đường nhựa phần đường bên phải (ký hiệu số 6), đầu xe hướng Bắc Ninh, đuôi xe hướng Bắc Giang, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải là 0,83m, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải là 1,30m.
Khoảng cách 19,95m từ đầu vết trượt xước (1) đến điểm gần nhất của cột biển báo giao nhau với đường ưu tiên là mốc của hiện trường.
Kết quả khám xe môtô, nhãn hiệu H3, sơn màu đen – trắng BKS 98B1 – 611.91: Bát gương chiếu hậu bên trái bật rời; Đầu tay lái bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (3 x 2)cm; Cánh yếm bên trái bị nứt vỡ; Ốp nhựa sườn xe bên trái để lại vết mài sát mòn nhựa kích thước (40 x 12)cm; Đầu để chân trước bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (2 x 1)cm, tâm cách đất 24cm; Để chân sau bên trái để lại vết mài sát mòn cao su kích thước (4 x 2)cm, tâm cách đất 33cm; Mặt bên trái tay cầm phía sau để lại vết mài sát mòn cao su kích thước (18 x 3)cm, tâm cách đất 70cm; Mặt bên trái ốp nhựa đuôi xe để lại vết mài sát mòn nhựa kích thước (11 x 5)cm, tâm cánh đất 62cm; Mặt bên trái biển số sau để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (11 x 1)cm, tâm cách đất 53cm; Đèn xi nhan phía sau bên trái bị nứt vỡ nhựa kích thước (10 x 2)cm, tâm cách đất 70cm; Đuôi chắn bùn bánh sau bị mài sát mòn nhựa kích thước (11 x 5)cm, tâm cách đất 41cm.
Kết quả khám xe ô tô trộn bê tông BKS 29H – 423.21, nhãn hiệu CNHTC, sơn màu trắng: Ốp nhựa tai xe bên phải bị bật rời khỏi xe; Đèn pha phía trước bên phải bị tì nén, nứt vỡ kích thước (21 x 15)cm, tâm cách đất 95cm; Góc bên phải ba đờ sốc trước để lại vết mài sát bám dính tạp chất màu đỏ kích thước (34 x 25)cm, tâm cách đất 75cm; Má lốp ngoài bánh lốp trước bên phải để lại vết mài sát cao su kích thước (40 x 3)cm, tâm cách chân van 60cm; Mặt ngoài la zăng bánh trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (20 x 6)cm, tâm cách chân van 50cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Hoàng Văn Q: Tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh; Mặc ngoài áo vest và quần dài màu đen. Bên trong mặc áo sơ mi dài tay và áo phông cộc tay màu trắng, quần đùi màu xám (quần áo được gia đình thay mới); Hai mắp khép kín. Hai lỗ tai, hai lỗ mũi khô. Miệng khép kín; Sờ nắn thấy gãy phức tạp xương lồng hai bên; tràn khí dưới da lồng ngực, bẹn và mông phải; Vùng thắt lưng phải, mông phải có diện sưng nề, biến dạng, bầm tím, rách da, kích thước (26 x 18)cm; Mu bàn tay phải có diện sây sát da, kích thước (03 x 02)cm; Mặt gan các ngón bàn tay trái có nhiều vết sây sát da, kích thước (24 x 09)cm; Vùng bìu có vết rách da, kích thước (06 x 05)cm. Kiểm tra vết rách da vùng thắt lưng phải thấy: Bầm dập tổ chức dưới da, vỡ phức tạp xương chậu hai bên, đầu xương gãy lồi ra ngoài, qua vết rách máu đỏ vẫn chảy ra.
Ngày 13/11/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định nguyên nhân chết của ông Hoàng Văn Q, cơ chế hình thành dấu vết thương tích.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 2426/KLGĐTT-KTHS ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Văn Q do đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy vỡ xương chậu hai bên; Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương sưng nề, biến dạng, bầm tím, mài sát, sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc với vật tày có các hình dạng và bề mặt khác nhau, theo nhiều chiều hướng tạo nên; Tổ thương gãy vỡ phức tạp xương chậu, xương lồng ngực hai bên được hình thành do tác động với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.
Ngày 06/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện (nay là thị xã) Việt Yên trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định cơ chế hình thành dấu vết giữa các phương tiện; Vị trí, chiều hướng va chạm, điểm va chạm của các phương tiện trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.
Tại Bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết vỡ, lõm nhựa, bám dính chất màu vàng (dạng rỉ sét), hướng từ trước ra sau ở ốp nhựa cụm đèn trước bên phải của xe ô tô biển kiểm sát 29H – 423.21 (ảnh số 6, 7 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng nhựa), hướng từ sau ra trước ở mặt sau, đầu ngoài tay nắm bên trái của xe mô tô BKS 98B1 – 611.91 (ảnh số 17 biên bản khám phương tiện); Dấu vết trượt xước kim loại, cao su, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ tâm trục ra mặt lăn, ngược chiều chuyển động tiến ở mặt ngoài la zăng và má ngoài lốp bánh trước bên phải của xe ô tô BKS 29H – 423.21 (ảnh số 10, 11, 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm kim loại, mài trượt cao su hướng từ sau ra trước ở cạnh ngoài để chân sau bên trái của xe mô tô BKS 98B1 – 611.91 (ảnh số 21 bản ảnh khám phương tiện); Dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng và đen (dạng nhựa, cao su), hướng ngược chiều chuyển động tiến ở đầu ốc cố định la zăng trục bánh trước bên phải của ô tô BKS 29H – 423.21 phù hợp với dấu vết vỡ ốp nhựa đèn xi nhan sau bên trái và dấu vết rách, trượt xước cao su hướng từ sau ra trước ở bên trái tay xách của xe mô tô BKS 98B1 – 611.91.
Vị trí va chạm giữa xe xe ô tô BKS 29H – 423.21 và xe mô tô BKS 98B1 – 611.91 trên mặt đường gom dân sinh, tại trước điểm đầu dấu vết trượt xước ký hiệu số 1 và số 2, thuộc phần đường bên trái theo hướng thành phố B đi thành phố B.
Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô BKS 29H – 423.21 chuyển động theo hướng thành phố B đi thành phố B va chạm với xe mô tô BKS 98B1 – 611.91 ở phía trước cùng chiều (đầu xe mô tô chếch hướng mép đường bên trái); Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.
Ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện (nay là thị xã) Việt Yên yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện (nay là thị xã) Việt Yên định giá xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha, BKS 98B1 – 611.91 và xe ô tô trộn bê tông BKS 29H – 423.21. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện (nay là thị xã ) V kết luận: Các bộ phận của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha, BKS 98B1 – 611.91 bị thiệt hại có tổng giá trị 450.000 đồng; Các bộ phận của xe ô tô trộn bê tông BKS 29H – 423.21 có tổng trị giá 2.600.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha, BKS 98B1 – 611.91 quá trình điều tra xác định là của ông Hoàng Văn Q. Đối với chiếc ô tô trộn bê tông BKS 29H – 423.21 xác định là tài sản của Công ty TNHH T3 nên ngày 05/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho đại diện gia đình ông Hoàng Văn Q và Công ty TNHH T3.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, bị cáo Quàng Văn V hỗ trợ, bồi thường cho gia đình ông Hoàng Văn Q số tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Gia đình ông Q đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu ai hỗ trợ, bồi thường gì khác.
Về thiệt hại trên hai phương tiện do tai nạn, Công ty TNHH T3, đại diện gia đình bị hại tự sửa chữa, khắc phục thiệt hại không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số: 127/CT-VKS ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Quàng Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt:
Quàng Văn V từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Không giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm phạm tội, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Quàng Văn V có giấy phép lái xe mô tô hạng C theo quy định. Khoảng 05 giờ 30 ngày 13/11/2023, tại khu vực đường gom dân sinh cao tốc Bắc Giang - Hà Nội thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) Quàng Văn V điều khiển xe ô tô trộn bê tông BKS 29H - 423.21 thiếu chú ý quan sát, đi lấn làn đường, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, điều khiển xe ô tô vượt xe mô tô 98B1 - 611.91 do ông Hoàng Văn Q điều khiển phía trước cùng chiều tại nơi đường giao nhau đã vi phạm khoản 3 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019; khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 13, điểm d khoản 5 Điều 14 – Luật giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn hậu quả làm ông Hoàng Văn Q tử vong.
Do vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tổn thất lớn về tinh thần cũng như tổn hại về vật chất cho gia đình bị hại, đồng thời gây hoang mang, lo lắng cho những người tham gia giao thông khi đi qua khu vực này. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có trách nhiệm thăm hỏi và tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân, được người đại diện cho nạn nhân xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cầm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thực sự ăn năn hối cải, ngoài nghề lái xe không có nghề nào khác, do vậy Hội đồng xét xử thấy không áp dụng hình phạt cấm bị cáo lái xe ô tô cũng đủ để bị cáo tự giáo dục, cải sửa bản thân và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và để chăm lo lao động chăm sóc gia đình.
[5] Trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo thấy rõ được trách nhiệm của mình nên đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân 180.000.000 đồng. Phía đại diện gia đình nạn nhân không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy việc bồi thường là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên cần ghi nhận sự tự nguyện này, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Vật chứng vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha, BKS 98B1 – 611.91 của ông Hoàng Văn Q. Chiếc ô tô trộn bê tông BKS 29H – 423.21 xác định là tài sản của Công ty TNHH T3. Ngày 05/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho đại diện gia đình nạn nhân và Công ty TNHH T3, các bên không có yêu cầu gì, do vậy không đặt ra giải quyết.
[7] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trºn,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt: Quàng Văn V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Quàng Văn V cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Sơn La nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Vật chứng: Không giải quyết.
Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Án Phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hoàng Văn Tấn – Nguyễn Thị Lại | Vũ Tân Thịnh |
Nơi nhận :
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND thị xã Việt Yên;
- - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- - Chi cục THA DS huyện Việt Yên;
- - UBND xã Mường Bám, h. Thuận Châu, tỉnh Sơn La;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu: HSVA- VPTA.
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giao thông
