Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:140/2024/HS-PT

Ngày: 18 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng, bà Nguyễn Ngọc Giao.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 191/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Vũ A và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Vũ A, bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Vũ A; sinh năm: 1967 tại A, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Mua bán. Trình độ văn hóa: 02/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Đạo Phật. Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tấn T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị M. Vợ Võ Thị Phương T2 (bị cáo trong cùng vụ án), có 02 người con. Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt)

  2. Võ Thị Phương T2; sinh năm: 1970 tại A, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, An Giang. Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ văn hóa: 09/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn P và bà: Nguyễn Thị M1 (đã chết). Chồng: Nguyễn Vũ A (bị cáo trong cùng vụ án), có 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:gồm có 07 người (tất cả vắng mặt)

(Trong vụ án, bị cáo Vũ A, bị cáo T2 có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2022, thông qua quan hệ quen biết nên Nguyễn Vũ A thỏa thuận bán số đề nộp phơi hưởng hoa hồng cho một người đàn ông (không xác định nhân thân, địa chỉ cụ thể). Hằng ngày, Vũ A bán số đề cho người mua dưới hình thức trực tiếp bằng việc chạy xe đạp quanh khu vực sinh sống; đến khoảng 15 giờ, Vũ A đi đến sàn nhà của Nguyễn Hoàng E (ấp P, xã P, huyện A; em ruột của Vũ A) để ghi vào phơi đề tổng nộp phơi cho “chủ thầu”; khoảng 02 – 03 ngày đầu Vũ A tự mình thực hiện, giai đoạn sau do Võ Thị Phương T2 (vợ Vũ A) phụ giúp thực hiện việc vào phơi đề tổng. Sau đó, chủ thầu sẽ đến gom phơi và số tiền bán được trong ngày. Việc tính toán thắng thua với các con bạc dựa vào kết quả đối chiếu trên các phơi đề phụ so với kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Số tiền thắng thua từng ngày và tiền huê hồng trả cho Vũ A sẽ được chủ thầu tính toán cụ thể vào ngày hôm sau khi đến gom phơi đề.

Ngày 10/01/2022, Vũ A bán số đề đài Đồng Tháp tổng cộng 5.047.500 đồng, cụ thể: bán cho Trần Minh H 100.000 đồng, Phạm Văn V 100.000 đồng, Ngô Thị T3 150.000 đồng, Lê Thị L 90.000 đồng và một số người khác tổng cộng 4.607.500 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Vũ A và T2 đang cộng các phơi đề thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 3.296.000 đồng cùng các tang vật có liên quan.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS.AP-HS ngày 23/01/2024 và Công văn số 59/VKSAP-HS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố các bị can Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ A và bị cáo Võ Thị Phương T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Xử phạt bị cáo Võ Thị Phương T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, tính án phí va quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo không phải chịu hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Bị cáo A, bị cáo T2 vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, bị cáo A, bị cáo T2 xin giảm nhẹ hình phạt, cho hình phạt tiền hoặc cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo A về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo; chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2 về việc xin hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ A 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thị Phương T2 từ 06 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 01 năm, về tội “Đánh bạc”. Các phần khác giữ y án sơ thẩm

Lời nói sau cùng các bị cáo A, T2 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo A, bị cáo T2 hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo A, và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 đã có hành vi nhiều lần đánh bạc, dưới hình thức nhận phơi ghi số lô, số đề ăn thua bằng tiền, cụ thể.

Ngày 10/01/2022, Vũ A bán số đề đài Đồng Tháp tổng cộng 5.047.500 đồng, cụ thể: bán cho Trần Minh H 100.000 đồng, Phạm Văn V 100.000 đồng, Ngô Thị T3 150.000 đồng, Lê Thị L 90.000 đồng và một số người khác tổng cộng 4.607.500 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Vũ A và T2 đang cộng các phơi đề thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 3.296.000 đồng cùng các tang vật có liên quan.

Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, Hội động xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội.

Xét về tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy, các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới mọi hình thức, nhưng với mục đích hám lợi nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù số tiền đánh bạc không lớn nhưng cho thấy các bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật, khi lượng hình phải xử phạt các bị cáo một hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục.

Đây là vụ án có yếu tố đồng phạm giản đơn, bị cáo Vũ A là người trực tiếp bán số đề cho người khác, nộp phơi và hưởng huê hồng từ chủ thầu nên xác định là người thực hành và giữ vai trò chính. Bị cáo T2 vợ phụ thuộc vào chồng (bị cáo A), là người giúp sức cho bị cáo Vũ A cộng phơi đề nên xác định là đồng phạm giúp sức giữ vai trò không đáng kể. Do đó, mức hình phạt đối với bị cáo Vũ A phải nghiêm khắc hơn so với bị cáo T2.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo A, T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa tiền án tiền sự, đối với bị cáo T2 còn cung cấp giấy khám bệnh, thuốc điều trị bệnh “Trào ngược dạ dày, hen suyễn, di chứng do lao”, được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo A và 06 tháng tù đối với bị cáo T2 thì thấy; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T2 hiện nay đang mang bệnh, đã thực sự hối hận và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, thể hiện có khả năng tự cải tạo nên việc bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; hoàn toàn phù hợp quy định được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; thời gian thử thách tại địa phương, cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo T2 được hưởng án treo có cơ sở, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận; đối với bị cáo Vũ A nếu cách ly ra khỏi xã hội một thời gian là có phần nghiêm khắc, chưa đồng quan điểm với Hội đồng xét xử.

[6] Lưu ý: Trong việc nhận định và áp dụng pháp luật của án sơ thẩm, trong phần nhận định của Bản án sơ thẩm nêu “khi lượng hình có xem xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt, trong thời gian tại ngoại không phạm tội mới. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 mà Kiểm sát viên đề cập, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không thành khẩn khai báo về đối tượng là chủ thầu đề khoảng thời gian bán số, ... Do vậy không áp dụng tình tiết này đối với các bị cáo”

Phần Quyết định bản án sơ thẩm tuyên “……., điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự”.

Các vấn đề lưu ý nêu trên, Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo A, T2 không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ A: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực.

  • - Xử phạt bị cáo Võ Thị Phương T2: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Giao bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Vũ A, Võ Thị Phương T2 không phải chịu.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (2);
  • - Cục THADS tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - TAND huyện (2);
  • - Công an huyện (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - UBND xã Phước Hưng, huyện An Phú.
  • - Bị cáo (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - PV 06 (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu Tòa, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 140/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị Cao A và P phạm tội Đánh Bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger