TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 140/2025/HSST Ngày: 18/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Thanh Tùng
Ông Trần Ngọc Tây
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2025/TLST-HS ngày 07/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2025/QĐXXST-HS ngày 03/6/2025, đối với các bị cáo:
- Bùi Văn Đ, sinh năm 1993 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số B, tổ C T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Bùi Văn K (sinh năm 1955) và bà Lê Thị T (sinh năm 1959).
Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2014/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2017, chưa nộp án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2018/HSST ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 202/2010/HSST ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2011 (bị can phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi);
- Bản án hình sự sơ thẩm số 239/2012/HSST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác ngày 06/12/2014
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực N - thuộc trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.
- Lê Quốc C (tên gọi khác: T1), sinh năm 1994 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số D C, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Quốc D và bà Bùi Thị X (sinh năm 1958).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2023, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang ra Quyết định số 03 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Bị cáo đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị hại: Ông Cao Lê T2, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 13/6/2023, Bùi Văn Đ và Lê Quốc C đi bộ đến khu vực Lầu B, phường V, thành phố N để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến trước nhà số A đường L, phường V, thành phố N, cả hai phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N1 - 764.43 của anh Cao Lê T2 đang dựng trước nhà, lợi dụng lúc không người trông giữ, Đ đứng cảnh giới để C lén lút đi đến dùng “đoản” phá khóa xe máy rồi nổ máy, điều khiển xe chở Đ bỏ chạy. Sau đó, C đem xe đi bán cho một người không rõ lai lịch tại khu vực H, xã P, thành phố N với giá 2.000.000 đồng, số tiền có được C chia cho Đ 500.000 đồng và mua ma túy sử dụng hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 570/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N1 764.43 có giá trị 7.600.000 đồng (BL 33).
Tài liệu, đồ vật bị tạm giữ:
- 01 áo khoác dài tay, có mũ, màu xám ghi, không rõ nhãn hiệu (đã trả lại cho chủ sở hữu);
- - 01 đĩa CD chứa hình ảnh việc Bùi Văn Đ và Lê Quốc C trộm cắp tài sản vào ngày 13/6/2023 tại trước nhà số A đường L, phường V, thành phố N.
Tại Bản cáo trạng số: 137/CT-VKSNT ngày 07/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên Cáo trạng số 137/CT-VKSNT ngày 07/5/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc C từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại Cao Lê T2 với các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C về việc các bị cáo Đ, C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Cao Lê T2 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Về vật chứng vụ án:
01 (Một) áo khoác dài tay, có mũ, màu xám ghi, không rõ nhãn hiệu đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- - Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C trình bày: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo đúng người, đúng tội nên các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, tài sản bị chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 13/6/2023, trước nhà số A đường L, phường V, thành phố N Bùi Văn Đ và Lê Quốc C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (Một) xe máy hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 79N1-764.43 của ông Cao Lê T2, trị giá 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi trộm cắp được, các bị cáo mang xe máy trên đi bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực H, xã P, thành phố N với tổng số tiền là 2.000.000 đồng, số tiền có được C chia cho Đ 500.000 đồng và mua ma túy sử dụng hết.
[3] Hành vi của bị cáo Lê Quốc C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn Đ trước đây đã bị xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 81/2014/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa chưa đóng án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục bị kết án 04 (B) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 254/2018/HSST ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang nên thuộc trường hợp “Tái phạm”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, chưa được xóa án tích. Vậy nên, hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt: “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 137/CT-VKSNT ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác; làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; gây lo lắng, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người trưởng thành, có đủ sức khỏe, đủ nhận thức hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do bản tính lười lao động, cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện tội phạm.
[4.1] Bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Quốc C phạm tội chỉ với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công cấu kết chặt chẽ. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo C là người chủ động đi tìm xe để trộm cắp, Đ đứng ngoài cảnh giới để C dùng đoản phá khóa xe và C là người đi tìm nơi để tiêu thụ tài sản trộm cắp nên có vai trò tích cực hơn bị cáo Đ.
[4.2] Bị cáo Bùi Văn Đ có nhân thân xấu, trước đây đã nhiều lần bị Tòa án kết án và xử phạt, trong đó có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, sau khi chấp hành án phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, qua đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
Vì vậy, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Quốc C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo C phạm tội lần đầu với tính chất, mức độ của tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo C.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại ông Cao Lê T2 yêu cầu các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C phải bồi thường thiệt hại do xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N1 - 764.43 bị mất trộm với số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C và bị hại Cao Lê T2 thỏa thuận: Bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại ông Cao Lê T2 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy: Sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
[8] Về xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu: 01 (Một) áo khoác dài tay, có mũ, màu xám ghi, không rõ nhãn hiệu đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Cao Lê T2, theo Quyết định số 4018/QĐ-ĐCSHS ngày 20/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa về tội danh, mức hình phạt, vấn đề dân sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam, giữ (ngày 30/7/2024).
1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc C 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 288; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại ông Cao Lê T2 với các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C về việc: Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Cao Lê T2 số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Trong đó, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo các Bùi Văn Đ, Lê Quốc C chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Quốc C; bị hại ông Cao Lê T2 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 140/2025/HSST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngày 13/6/2023, trước nhà số 19/70 đường Lý Ông Trọng, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang Bùi Văn Đức và Lê Quốc Cường đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (Một) xe máy hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 79N1-764.43 của ông Cao Lê Tú, trị giá 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi trộm cắp được, các bị cáo mang xe máy trên đi bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực Hòn Rớ, xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang với tổng số tiền là 2.000.000 đồng, số tiền có được Cường chia cho Đức 500.000 đồng và mua ma túy sử dụng hết
