TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số:140/2025/HS-ST Ngày: 26/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long
Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Huệ
Ông Trần Viết Ty
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 122/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025, đối với bị cáo:
1. Cù Quốc Q, sinh ngày 02/9/1972; tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKTT và nơi ở tại phố A, xã L, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; CCCD [...] cấp ngày 24/10/2016; D bản, chỉ bản số 401 lập ngày 06/11/2024 tại Công an tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị L, sinh năm 1934; có vợ Lý Thị T, sinh năm 1971 và 02 con lớn sinh năm 1996 nhỏ 2003; Gia đình có 06 anh, chị, em bị cáo con thứ 4; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 17/11/2008, TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”;
Ngày 09/9/2014, TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2016; đều xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/11/2024 đến ngày 06/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Cù Quốc Q: Luật sư Mai Văn B
Địa chỉ: Văn phòng L1 – số G đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ ngày 19/6/2020, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh T làm nhiệm vụ tại K đường H thuộc địa phận thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn M (sinh năm 1986, trú thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa) Hà Văn B1 (sinh năm 1988, trú xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa) và Lục Văn Đ (sinh năm 1999, trú xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu 110 túi nilon bên trong đều đựng các viên ma túy hồng phiến;
Tại bản Kết luận giám định số 1676/PC09 ngày 23/6/2020 của Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận: Các viên nén hình màu đỏ có ký hiệu “WY” đựng trong 110 túi nilon kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2.099,150g, loại Methamphetamine; các viên nén màu xanh ký hiệu “WY” đựng trong 110 túi nilon của thùng giấy kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 20,620g, loại Methamphetamine; 04 viên nén màu đỏ ký hiệu “WY” của phong bì niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,393g, loại Methamphetamine. (BL 39).
Quá trình điều tra đã xác định:
Nguyễn Văn M khai nhận cuối tháng 5 năm 2020, người phụ nữ tên Út H gọi điện cho M đặt mua 120 “đàn” ma túy hồng phiến (mỗi “đàn” có 200 viên) M báo giá 3.500.000đ/”đàn”, M hẹn khi nào có đủ sẽ mang xuống N bán cho Út H. Sau đó M gặp và trao đổi với Cù Quốc Q về việc tìm mua ma túy hồng phiến về bán lại kiếm lời nên Q đã liên hệ với Lò Thị Q1 (sinh năm 1973 trú bản Chại, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) nhờ tìm mua.
Khoảng chiều ngày 27/5/2020, Nguyễn Văn M điều khiển xe ôtô bán tải Ford ranger BKS 36C - 30767 chở Q và Hà Văn B1 đi lên nhà Lò Thị Q1 để đặt vấn đề mua ma túy hồng phiến. Tại sân nhà Q1, Q bảo Q1 tìm mua 30 “đàn” ma túy hồng phiến, Q1 đồng ý nhận lời nhưng do Q1 chưa tìm được nguồn nên Q, M và B1 đi xe ôtô về.
Trên đường đi về Q nói cho M biết Lò Thị Q1 đồng ý đi mua nhưng Q1 nói không có tiền nên M bảo với Q sẽ đưa tiền cho Q1 nhưng khi nào đưa tiền phải bảo Q1 viết giấy nhận tiền để làm tin.
Chiều ngày 30/5/2020, M gọi điện thoại cho B1 đến nhà M để cùng đi đón Q lên nhà Q1 đặt tiền mua ma túy. Trên đường đi, Q gọi điện thoại cho Q1 bảo đang đi lên để đặt tiền mua ma túy và bảo Q1 đi ra đường để gặp nhau. Khi M lái xe ôtô bán tải Ford ranger BKS 36C - 30767 chở Q và B1 đi lên gần nhà Q1, thì thấy Q1 đi xe máy cùng Đinh Đức T1 (sinh năm 1978, trú thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa, bạn trai Q1) đang đứng đợi bên ven đường nên M lái xe ôtô quay lại đón Q1 và T1 lên xe, chạy khoảng 400m thì rẽ vào đường nhánh và dừng xe lại. Lúc này, M mở cửa xe xuống đi vệ sinh. Trên xe, Q lấy giấy và bút đưa cho Q1 viết giấy nhận tiền, do không biết chữ nên Q1 đưa cho Đinh Đức T1 viết giấy biên nhận số tiền 40.000.000₫ của Q đưa, Q1 và T1 cùng ký tên vào giấy. M đi lên xe ôtô chở Q1 và T1 quay lại chỗ để xe máy để Q1 và T1 lấy xe máy đi về. Đến sáng ngày 31/5/2020, Q1 đưa cho T1 số tiền 40.000.000₫ để đi mua ma túy.
Chiều ngày 02/6/2020, Q gọi điện cho M bảo đi lên nhà Q1 lấy ma túy nên M gọi điện cho Hà Văn B1 đi cùng. M lấy xe ôtô bán tải Ford ranger BKS 36C - 30767 chở Q và B1 đi lên nhà Q1. Trên đường đi, Q gọi điện cho Q1 thì Q1 bảo T1 đang đi lấy nên M, Q và B1 đã nằm ngủ lại trong xe ôtô đợi. Khoảng 11 giờ ngày 03/6/2020, Q1 gọi điện cho Q nói chưa lấy được “hàng” và hẹn đến tối lên lấy. Do vậy, Q, M, B1 tiếp tục ở lại trong xe ôtô đợi nhưng đến tối cùng ngày Q gọi điện cho Q1 hỏi thì Q1 nói là T1 bị làm rơi mất “hàng”, hẹn khi nào mua được sẽ báo lại. Do không mua được ma túy nên Q nói với M lần sau lên lấy ma túy phải cho B1 và Lục Văn Đ đi cùng Q1 và T1 để mua ma túy.
Khoảng 10 giờ ngày 14/6/2020, Lò Thị Q1 đi một mình lên bản Khằm, xã T, huyện M gặp người đàn ông tên là N, hỏi mua ma túy hồng phiến với giá 2.500.000đ/“đàn” nên Q1 gọi điện cho Q thông báo đã tìm được chỗ bán ma túy hồng phiến với giá 2.500.000đ/“đàn”. Sau đó, Q gọi điện báo cho M, M bảo Q đặt mua 50 “đàn” nên Q điện thoại cho Q1 đặt mua 50 “đàn” ma túy hồng phiến và bảo M sẽ trả công cho Q1 10.000.000đ. Khoảng 19 giờ ngày 14/6/2020, M điều khiển xe ôtô bán tải Ford ranger BKS 36C - 307.67 chở Q, B1, Đ đi từ thị trấn C, huyện B lên xã T, huyện M để mua ma túy. Trên đường đi, M bảo B1 lấy tiền trong túi của M đếm đưa cho Đ cầm 50.000.000đ và B1 cầm 50.000.000₫ khi nào gặp Q1 thì đi cùng đưa tiền cho Q1 mua ma túy. M lái xe ôtô đi qua nhà Q1 khoảng 03km, thì thấy Đinh Đức T1 đang đứng chờ ở ven đường nên M dừng xe ôtô đón T1 lên xe đi cùng. Khoảng gần 23 giờ cùng ngày đi lên đến khu vực Cầu G thuộc Bản K, xã N, huyện M thì T1 bảo M dừng xe để T1, B1, Đ xuống xe, còn M và Q chạy xe ôtô lên hướng thị trấn M khoảng 4 - 5km đợi. Khi xuống xe T1 dẫn B1, Đ đi vào đường mòn gần Cầu G để gặp Lò Thị Q1.
Khi gặp nhau, Q1 dẫn B1, Đ đi lên đường mòn ven rừng được một đoạn thì bảo dừng lại chờ N mang ma túy đến bán nên B1 và Đ đưa cho Q1 số tiền 100.000.000đ, Q1 cầm tiền đi sâu vào rừng đưa cho N số tiền 90.000.000₫ và nhận 45 “đàn” ma túy hồng phiến của N bán rồi đi về chỗ B1 và Đ đang đợi và đưa cho B1 cầm túi ma túy vừa mua của N. Sau đó, B1 gọi điện cho M, Q để đi lại khu vực Cầu G đón B1 và Đ đi về. Khi đến thị trấn C, Q xuống xe về nhà, M tiếp tục chở B1 và Đ về nhà B1. Trên đường M đi về nhà, khi đi qua khu nghĩa trang gần nhà thì dừng xe và bật đèn pin điện thoại đếm số ma túy vừa mua của Q1 thấy có 45 “đàn”, nên M gọi điện cho Q hỏi tại sao đặt mua 50 “đàn” với giá 100.000.000₫ nhưng lại chỉ có 45 “đàn”, thì Q bảo để mai gọi cho Q1 hỏi lại, sau đó, M đem túi ma túy cất giấu ở khu nghĩa trang gần nhà, rồi đi xe ôtô về nhà.
Do khách đặt mua 110 “đàn” ma túy hồng phiến nhưng chỉ mới mua được 45 “đàn” nên chiều ngày 16/6/2020, M gọi điện cho Lò Phương Q2 (sinh năm 1993 trú xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, bạn gái M) nhờ tìm mua 70 “đàn” ma túy hồng phiến nên Q2 đã liên hệ và mua của một người đàn ông tên T2 ở xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa 65 “đàn” với giá 2.900.000đ/“đàn”. Khoảng 18 giờ ngày 19/6/2020, T2 mang 65 “đàn” ma túy hồng phiến giấu trong túi vải để ở bụi cây phía sau nhà quán cắt tóc gội đầu của Q2 và báo lại với Q2. Khoảng 19 giờ cùng ngày, M, B1 và Đ lên gặp Lò Phương Q2 để lấy 65 “đàn” ma túy hồng phiến. Sau khi về nhà M lấy 45 “đàn” ma túy hồng phiến mua của Lò Thị Q1 trước đó bỏ vào túi cùng với 65 “đàn” ma túy hồng phiến của Lò Phương Q2 vừa mua, rồi cùng B1, Đ đi bán. Trên đường đi M bảo B1 và Đ kiểm tra lại số lượng H1 phiến nên Đ bật đèn pin điện thoại soi cho B1 đếm thấy có tổng số 110 túi đựng Hồng phiến (mỗi túi khoảng 200 viên) và có 04 viên hồng phiến ở ngoài nên Đ lấy bỏ vào túi quần của mình cất giữ. Khi M điều khiển xe ôtô bán tải Ford ranger BKS 36C - 307.67 đi đến K đường H thuộc địa phận thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong 110 túi ma túy hồng phiến mà M, B1 và Đ đang mang đi bán.
Ngày 21/12/2023, TAND tỉnh Thanh Hóa đã xét xử Nguyễn Văn M, Hà Văn B1, Lục Văn Đ, Lò Phương Q2, Đinh Đức T1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS tại Bản án số 304/2023/HSST.
Đối với Lò Thị Q1, trong quá trình tạm giam tại ngày 18/01/2021 Lò Thị Q1 đã chết do bệnh lý nên Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra đối với Q1.
Đối với Cù Quốc Q bỏ trốn đến ngày 03/11/2024, Cục CSĐT Bộ C đã bàn giao Cù Quốc Q cho phía Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế B2, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Ngày 04/11/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã lập biên bản giao, nhận người có quyết định truy nã đối với Cù Quốc Q. (BL 49-50; 80-93; 310-311; 342-347).
* Việc xử lý vật chứng: Vật chứng là ma túy thu giữ trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 10/4/2019 đã được tiêu hủy theo quyết định tại Bản án số 304/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TAND tỉnh Thanh Hóa.
* Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSTH-P1 ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa để xét xử bị can Cù Quốc Q về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" đối với bị cáo Cù Quốc Q như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự. Khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Cù Quốc Q tù chung thân; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/11/2024.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS xử phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000đ.
- Xử lý vật chứng: Đã được tiêu hủy theo quyết định tại Bản án số 304/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TAND tỉnh Thanh Hóa nên miễn xét.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Cù Quốc Q: Bị cáo bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bố mẹ có công với cách mạng, ông ngoại là liệt sĩ, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố; có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 14/6/2020, Cù Quốc Q đã có hành vi cùng Nguyễn Văn M, Hà Văn B1 và Lục Văn Đ mua 45 “đàn” ma túy của Lò Thị Q1 và Đinh Đức T1 để bán kiếm lời. Do đặc điểm của các viên ma túy hồng phiến trong 110 “đàn” thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn M, Hà Văn B1 và Lục Văn Đ có tổng khối lượng 2.120,163g loại Methamphetamine đều có cùng một chủng loại và đặc điểm đồng nhất với nhau nên Cù Quốc Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng của 45/110 “đàn”, tổng là 2.120,163g:110x45 = 867,339g loại Methamphetamine.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Cù Quốc Q đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
- [2.2] Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là đặc biệt lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Vì vậy, cần phải lên cho bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục đồng thời phòng ngừa chung tệ nạn ma tuý trong xã hội hiện nay đang có chiều hướng gia tăng.
Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo Cù Quốc Q đã trực tiếp nhiều lần cùng Nguyễn Văn M, Hà Văn B1, Lục Văn Đ đi gặp Lò Thị Q1 để bàn bạc, trao đổi mua ma túy cho M nên đồng phạm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" với vai trò giúp sức tích cực và phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng của 45/110 “đàn”, tổng là 2.120,163g:110x45 = 867,339g loại Methamphetamine.
- [2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
- * Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- * Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; gia đình có sổ hộ nghèo đề ngày 08/12/2021, bố mẹ có công được tặng thưởng H2, huân chương, có ông ngoại là Liệt sĩ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- * Về nhân thân: Ngày 17/11/2008, TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”; Ngày 09/9/2014, TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- [2.4] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vị trí vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt chung thân theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cù Quốc Q theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa là phù hợp.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo với vai trò giúp sức, không được vụ lợi trong vụ án, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Cù Quốc Q.
* Bản án số 304/2023/HSST ngày 21/12/2023, của TAND tỉnh Thanh Hóa đã xét xử Nguyễn Văn M, Hà Văn B1, Lục Văn Đ, Lò Phương Q2, Đinh Đức T1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS.
* Đối với Lò Thị Q1, trong quá trình tạm giam tại ngày 18/01/2021 Lò Thị Q1 đã chết do bệnh lý nên Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra đối với Q1.
- [2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo.
- [3] Việc xử lý vật chứng: Bản án số 304/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TAND tỉnh Thanh Hóa đã tiêu hủy vật chứng là ma túy thu giữ trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 10/4/2019.
- [4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự. Khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với Cù Quốc Q.
- Tuyên bố bị cáo: Cù Quốc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo: Cù Quốc Q tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 04/11/2024.
* Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Cù Quốc Q.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo: Cù Quốc Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 140/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 140/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
