TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc |
Bản án số: 140/2025/HS-ST Ngày: 04 - 06 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Mai Lan
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 06 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 193/2025/HSST ngày 08/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2025/QĐXXST-HS ngày 22/05/2025 đối với các bị cáo:
- Trần Thị T; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số D đường T, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà số G đường T, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Có chồng tên Nguyễn Văn T3 (đã chết) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008; Nhân thân: Ngày 05/5/2006, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội Đánh bạc (bản án số 99/HSST). Ngày 10/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội Đánh bạc (bản án số 238/2013/HSST); Ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù, về tội Đánh bạc (bản án số 242/HSST). Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 03 năm tù của bản án số 238/2013/HSST ngày 10/10/2013 của Tòa án nhân dân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 09 tháng tù; Ngày 08/11/2018, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội Đánh bạc (bản án số 185/HSST). Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/02/2021. Đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 39653 ngày 10/01/2019, đã nộp 10.000.000 đồng hình phạt bổ sung theo biên lai thu số 6076 ngày 10/01/2019: Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 14/01/2025 (có mặt).
- Trần Thị L; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1960 tại tỉnh Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Nhà số C đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà số A Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Trần Thị T4 (đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Có chồng tên Nguyễn Văn H1 (đã chết) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; Nhân thân: Ngày 12/02/2007, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt 02 năm tù của bản án số 14/HSST ngày 24/01/2006 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 04 năm tù (bản án số 53/HSST). Đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 12239 ngày 20/6/2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 21/04/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Nguyễn Thị X; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số D đường G, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà số C đường Q, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Phan Văn O và bà Nguyễn Thị B; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng tên Huỳnh Văn Ầ và có 02 người con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1986; Nhân thân: Ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, về tội Đánh bạc (bản án số 188/HSST): Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2024 (có mặt).
- Phạm Đức T5; Giới tính: Nam; Sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số E đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà số B đường H, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Giao hàng; Con ông Phạm Văn S và bà Trần Thị H2; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Trần Thị T6 và có 01 người con, sinh năm 2016; Nhân thân: Ngày 31/5/2013, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội Đánh bạc (bản án số 100/HSST): Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2024 (có mặt).
- Trần Thị Kim P; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1980 tại tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: Nhà số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Trần Văn T7 (đã chết) và bà Vũ Thị L1; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng tên Nguyễn Thanh S1 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 18/04/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Nguyễn Văn Đ; Giới tính: Nam; Sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số B đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Nhà không số đường T, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị T8; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Thùy L2 và chưa có con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2024 (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thái H3; Địa chỉ: Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (vắng mặt);
- Bà Trần Thị Như P1, sinh năm: 1958; Địa chỉ: D đường số B, cư xá L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9 - 10/2024, Trần Thị T gặp người quen tên T9 (không rõ lai lịch), T9 nói T có người nào cần tài khoản đánh bạc qua mạng thì giới thiệu cho T9, T9 sẽ cho T tiền huê hồng.
Khoảng 02-03 ngày trước ngày bị bắt (ngày 23/11/2024), Trần Thị L liên hệ với T nhờ T lấy tài khoản đánh bạc để đưa lại cho người khác chơi để kiếm tiền hoa hồng, L yêu cầu lấy tài khoản đánh bạc qua mạng với 100 điểm, quy ước 01 điểm tương đương 20.000 đồng, tương đương số tiền 2.000.000 đồng. T đồng ý. T liên hệ với T9 nhờ T9 lấy một tài khoản đánh bạc qua mạng có số điểm theo yêu cầu của L. Tân báo lại tên tài khoản đánh bạc cùng mật khẩu trên trang web “sgd789.com” cho T, sau đó T nhắn lại thông tin tài khoản và mật khẩu cho L sử dụng. Sau đó, L tự đăng nhập vào tài khoản đánh bạc vào máy tính bảng của L. La dự định đưa máy tính bảng này cho khách chơi nhưng do không ai chơi nên L chưa sử dụng.
Khoảng 13 giờ ngày 23/11/2024, Trần Thị T và Trần Thị L đi ăn uống cùng bạn bè rồi về nhà của L tại nhà số A Đường số A, Phường A, quận G. Sau đó, Nguyễn Văn Đ đến nhà L chơi, Đ đưa cho L số tiền 5.000.000 đồng rồi kêu La nạp 250 điểm, tương đương số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc. Lúc này, L yêu cầu T nạp 250 điểm, tương đương số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản đánh bạc cho L. T gọi điện thoại cho T9 để lấy tài khoản đánh bạc. T9 cung cấp tên tài khoản XXX002 cùng mật khẩu cho T ghi vào giấy rồi T đọc lại cho L nghe để L đăng nhập tài khoản đánh bạc của trang web “sgd789.com” vào máy tính bảng đã có sẵn 250 điểm, tương đương số tiền 5.000.000 đồng. La với T thỏa thuận, sau khi chơi xong thì tính thắng thua dựa trên số điểm hiện còn. Sau đó T đi về, L đưa cho Đ máy tính bảng đã đăng nhập sẵn tài khoản đánh bạc, Đ cầm máy tính bảng trực tiếp chơi xóc đĩa trên mạng thắng thua bằng tiền. Đ chơi được mấy ván thì có Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 đến nhà L thấy Đ chơi đánh bạc qua mạng thì xin chơi cùng, Đ đồng ý. Đ nói La nạp thêm 250 điểm, tương đương số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản đánh bạc cho Đ. L điện thoại cho T nhờ nạp thêm 250 điểm, tương đương số tiền 5.000.000 đồng, T đồng ý. T gọi điện thoại nhờ T9 nạp thêm điểm theo yêu cầu của L. Tuy nhiên, do T9 nhầm lẫn nên tài khoản đánh bạc tăng lên tổng số điểm là 2.000 điểm, Đ đang sử dụng tài khoản thấy vậy nên nói lại với L là nạp tiền vào tài khoản bị nhầm, L nói Đ cứ chơi bình thường để L nói lại với T. Do Đ cần tiền mặt để chung tiền thắng thua trực tiếp với P, X, T5 nên Đ hỏi mượn La số tiền 5.000.000 đồng, L đồng ý và đưa số tiền trên cho Đ. Đ tiếp tục trực tiếp đánh bạc qua mạng và đặt giúp P, X, T5 thì thắng được 110 điểm (tài khoản tăng thêm 110 điểm, tương đương số tiền 2.200.000 đồng). Đức kêu L3 đưa tiền để chung cho P, X, T5. La chung cho Đ số tiền 2.200.000 đồng, Đ chung tiền thắng cho T5 500.000 đồng, cho P là 200.000 đồng, cho X là 300.000 đồng, còn lại số tiền 1.200.000 đồng là tiền thắng bạc của Đ. Đến 14 giờ 45 phút cùng ngày, Công an P2, quận G kiểm tra bắt quả tang Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 có hành vi đánh bạc nên đưa về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về số tiền dùng vào việc đánh bạc của các bị can như sau:
Trần Thị T có hành vi môi giới để T9 cung cấp tài khoản đánh bạc và giao lại cho Trần Thị L sử dụng đánh bạc qua mạng internet để hưởng hoa hồng.
Trần Thị L không trực tiếp tham gia đánh bạc mà hưởng lợi từ việc cung cấp tài khoản đánh bạc trên máy tính bảng của L để Đ đánh bạc với hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền. Đ yêu cầu La nạp vào tài khoản đánh bạc với tổng số điểm là 500 điểm, tương đương số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, do Đ, P, X, Toàn thắng được 110 điểm nên L đã đưa cho Đ số tiền 2.200.000 đồng để chung tiền thắng thua.
Nguyễn Văn Đ đem theo số tiền 5.300.000 đồng, sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc. Đ yêu cầu La nạp vào tài khoản đánh bạc với tổng số điểm là 500 điểm, tương đương số tiền 10.000.000 đồng nhưng chỉ đưa trước số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, do có P, X, T5 cùng tham gia đánh bạc nên Đức mượn lại số tiền 5.000.000 đồng của L để chung chi tiền thắng thua với các con bạc. Đ thắng được số tiền 1.200.000 đồng, thu giữ của Đ số tiền 6.500.000 đồng.
Trần Thị Kim P đem theo số tiền 99.800.000 đồng. Nhưng chỉ sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, P thắng 200.000 đồng, thu giữ của P 100.000.000 đồng.
Nguyễn Thị X đem theo số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc, X thắng 200.000 đồng, thu giữ của Xinh 3.200.000 đồng.
Phạm Đức T5 đem theo số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, Toàn thắng 500.000 đồng, thu giữ của T5 2.000.000 đồng.
Thu giữ xử lý vật chứng:
- Số tiền 111.700.000 đồng (của Đ 6.500.000 đồng, của X 3.200.000 đồng, của P 100.000.000 đồng, của T5 2.000.000 đồng).
- 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy S7 FE, 01 điện thoại di động hiệu OPPO của Trần Thị L
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của Trần Thị Kim P.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia của Nguyễn Thị X.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 của Nguyễn Văn Đ
- 01 xe mô tô biển số 59V1-348.95. Số máy JF24E-0637781, số khung: RLHJF2409BY100207. Qua xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Đ1, trú tại: Nhà số B đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Ngày 23/11/2024, Nguyễn Văn Đ (em ruột Đ1) mượn xe trên để đi công việc. Sau đó, Đ sử dụng xe trên đến nhà của Trần Thị L để đánh bạc. Xét tài sản hợp pháp của chị Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chị Đ1.
- 01 xe mô tô biển số 81K3 - 7877. Số máy: 3S31-079799, số khung: RLCS3S3106Y079799. Phạm Đức T5 khai xe trên mua lại của L4 (không rõ lai lịch) vào đầu năm 2024, khi mua L4 có đưa cho T5 giấy đăng ký xe bản chính nhưng không làm giấy tờ mua bán. Kết quả xác minh xe trên do anh Nguyễn Thái H3 (thường trú: Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã có Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G để xác minh, ghi lời khai Nguyễn Thái H3 về nguồn gốc xe trên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả.
- 01 xe mô tô biển số 66G1-304.28. Số máy: 5WP1-09499, số khung: RLCM5WP10-4Y009499. Nguyễn Thị X khai nhận khoảng năm 2018, chồng của X là Huỳnh Văn Ầ (chết năm 2022) có mua một xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu xanh, biển số 66G1 – 304.28 của người khác (không rõ lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Khi mua xe có làm giấy tờ mua bán viết tay nhưng X không rõ có giấy đăng ký xe hay không. Đến tháng 4/2022, ông Ầ chết nên đã thất lạc toàn bộ giấy tờ liên quan đến xe này. Kết quả xác minh, biển số 66G1-304.28 là của xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 66G1-304.28, số khung: RLCUG0610GY340901, số máy: G3D4E357813, xe do Lê Văn M, hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã có Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đề xác minh, ghi lời khai Lê Văn M về nguồn gốc biển số xe trên nhưng đến nay chưa nhận được kết quả. Kết quả xác minh số khung: RLCM5WP10-4Y009499, số máy: 5WP1-09499 là của xe mô tô hiệu Yamaha Mio Classico biển số 51M3-0666 do chị Trần Thị Như P1 (sinh năm 1958, hộ khẩu thường trú: Nhà số D Đường số B, cư xá L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Chị P1 đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch) không làm giấy mua bán và đã giao toàn bộ giấy tờ xe cho người mua.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển số 81K3-7877, số máy: 3S31-079799, số khung: RLCS3S3106Y079799 và xe mô tô có số khung: RLCM5WP10-4Y009499, số máy: 5WP1- 09499 nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc.
Tại bản cáo trạng số 209/CTr-VKS ngày 07/05/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 về tội “Đánh bạc” theo Điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Xử phạt bị cáo Phạm Đức T5 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo Trần Thị Kim P 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 13.600.000 đồng .
- Trả lại cho bị cáo Trần Thị Kim P số tiền 97.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 300.000 đồng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy S7 FE, 01 điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo Trần Thị La .
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe mô tô biển số 66G1-304.28. Số máy: 5WP1-09499 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T5 chiếc xe mô tô biển số 81K3 -7877. Số máy: 3S31-079799, số khung: RLCS3S3106Y079799.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia cho bị cáo Nguyễn Thị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 tại phiên tòa hôm nay sau khi đại diện Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng đã khai nhận lại toàn bộ diễn biến của quá trình phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, cùng tang vật đã được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự .
[3] Hành vi đánh bạc của các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, nó là một trong những tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, chính từ việc đánh bạc sẽ dẫn đến việc gia tăng các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc của nhiều gia đình dẫn đến sự tan rã, tạo thêm gánh nặng cho xã hội và đó cũng là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều tội phạm khác...đồng thời còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì muốn thoả mãn thú tiêu khiển cá nhân và có tiền để tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi tài, xỉu qua mạng Internet trên trang web “sgd789.com” thắng thua bằng tiền là lối sinh hoạt không lành mạnh, kích thích lòng tham và lối sống lười biếng lao động cho người khác, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức các bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với các bị cáo là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
[4] Bị cáo Trần Thị L lấy trang web “sgd789.com” từ bị cáo Trần Thị T do người thanh niên có tên T9 cung cấp tài khoản đánh bạc cho bị cáo T, sau đó bị cáo T nộp 5.000.000 đồng vào tài khoản đánh bạc của trang web “sgd789.com" để bị cáo L quản lý và trực tiếp ăn thua với các con bạc gồm có Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 và Nguyễn Văn Đ dựa trên kết quả tài xỉu của trang web “sgd789.com”. Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.360.000 đồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 điều 321 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.
[5] Đối với các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 có nhân thân xấu, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo. Bị cáo Trần Thị T là người lấy trang wed đánh bạc rồi giao lại cho bị cáo L tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, nên hình phạt đối với bị cáo T phải cao hơn các bị cáo khác.
Tuy hiên khi lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc không lớn, gia đình bị cáo X có công với cách mạng, các bị cáo chưa có tiền sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với các bị cáo Trần Thị Kim P và Nguyễn Văn Đ phải chịu mức hình phạt tương xứng với tội lỗi của các bị cáo nhưng xét thấy gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo mới phạm tội lần đầu. Trong thời gian tạm giam Bị cáo Đ từ ngày 23/11/2024 đến nay cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, Bị cáo P có nơi cư trú rõ ràng và qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cho các bị cáo được hưởng án treo, cho nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo Trần Thị Kim P và Nguyễn Văn Đ hưởng mức án có thời gian thử thách lâu dài và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự cho bị cáo Đ.
[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với số tiền 97.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax là tài sản riêng của bị cáo Trần Thị Kim P, không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Trần Thị Kim P.
- Đối với 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy S7 FE, 01 điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo Trần Thị L dùng để đánh bạc là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 66G1-304.28. Số máy: 5WP1-09499 qua xác minh có nguồn gốc không hợp pháp, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 13.600.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 của bị cáo Nguyễn Văn Đ dùng để liên lạc với bị cáo L để đánh bạc là vật chứng vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 81K3 -7877. Số máy: 3S31-079799, số khung: RLCS3S3106Y079799 qua xác minh do bị cáo T5 mua của một người tên L4 có giấy tờ hợp pháp nhưng chưa làm thủ tục sang tên, Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc hợp pháp nên quyết định trả lại cho bị cáo Phạm Đức T5.
- Đối với điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo Nguyễn Thị X bị thu giữ không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo
- Đối với số tiền 300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn Đ bị thu giữ không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với người thanh niên tên T9 (chưa rõ nhân thân lai lịch) là người trực tiếp cung cấp trang mạng cá cược đưa cho bị cáo L và bị cáo T, do chưa xác định được lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận G tiếp tục xác minh nếu có căn cứ đề nghị xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị T, Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 03(ba) năm 03(ba) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2025.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị L 03(ba) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.( được cấn trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 21/04/2025).
- Xử phạt bị cáo Phạm Đức T5 03(ba) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 03(ba) năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim P 03(ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03(ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 4 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ nếu bị cáo không phạm thêm một tội phạm khác.
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Trả lại cho bị cáo Trần Thị Kim P số tiền 97.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Đức T5 chiếc xe mô tô biển số 81K3 -7877. Số máy: 3S31-079799, số khung: RLCS3S3106Y079799.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia cho bị cáo Nguyễn Thị X.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 300.000 đồng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy S7 FE, 01 điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo Trần Thị La .
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe mô tô biển số 66G1-304.28. Số máy: 5WP1-09499 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 13.600.000 đổng .
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 67/PNK ngày 13/02/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 140/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 140/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Thị T,Trần Thị L, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị X, Phạm Đức T5 phạm tội “Đánh bạc”
