TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2025/HS-PT Ngày: 28-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Phú Thọ. |
| Ông Nguyễn Ngọc Thông. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 119/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Kim T. Do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Kim T; tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/6/1986; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 03/01/2024; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12. Cha: Vô danh; Mẹ: Huỳnh Kim H Sinh năm: 1963; A, chị, em: Không có. Vợ: Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm: 2019. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/8/2024, Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 111/QĐ-XPHC số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa nộp phạt; Nhân thân: Ngày 16/10/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 20/6/2021. Ngày 20/12/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tạm giữ hình sự: từ 28/10/2024 đến ngày 31/10/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ trong vụ án khác (có mặt).
Trong vụ án còn có bị hại Mai Thị Tuyết M không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/10/2024, Huỳnh Kim T điều khiển xe mô tô biển số 66F2-5852 đến nhà người bạn tên T2 ở xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhưng không gặp T2 nên T quay về. Khoảng 20 giờ 00 phút, trên đường về T nhìn thấy xe mô tô biển số 66C1-431.19, bên trong cốp xe có số tiền 5.000.000 đồng của chị Mai Thị Tuyết M, sinh năm 1987, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đang đậu cặp lề đường, sát hàng rào nhà của chị Phạm Thị Thu L, sinh năm 1971, thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, không có người trông coi và chìa khóa cắm sẵn trên xe nên T nảy sinh ý định lấy trộm. Để thực hiện hành vi lấy trộm, T điều khiển xe mô tô 66F2-5852 qua cầu ông Ba Tà Đ cặp bên đường, khóa cổ xe lại rồi đi bộ quay lại qua cầu, sau đó T đi đến xe mô tô biển số 66C1-431.19 của chị M rồi đề máy xe bỏ chạy về hướng xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Do không biết đường đi nên T quay xe chạy về hướng thành phố S thì bị anh Đoàn Công S, sinh năm 1997, địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp phát hiện, chạy đuổi theo. Khi bị đuổi theo đến phường B, thành phố S thì T chạy xe vào nhà trọ (không tên) đậu xe để cất giấu, sau đó T đi bộ ra đường thì bị anh S bắt giữ và trình báo lực lượng Công an. Qua làm việc, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VISION màu đỏ, biển số 66C1-431.19 vào thời điểm định giá ngày 27/10/2024 có giá trị là 15.000.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T lấy trộm của chị M là 20.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và trao trả cho chị Mai Thị Tuyết M xe mô tô biển số 66C1-431.19 và 5.000.000đ. Chị M đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Huỳnh Kim T.
Tạm giữ của Huỳnh Kim T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 66F2-5852. Qua điều tra xác định, điện thoại là tài sản của T không liên quan đến việc phạm tội. Còn xe mô tô T khai mượn của người bạn tên T3 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Kết quả tra cứu xác định xe mô tô biển số 66F2-5852 do bà Nguyễn Thanh T4, ngụ khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là chủ sở hữu. Tuy nhiên, bà T4 đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, còn người tên T3 chưa xác định được là ai nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2025/HS-ST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 31/10/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo luật định.
Ngày 05 tháng 5 năm 2025, các bị cáo Huỳnh Kim T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Huỳnh Kim T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Huỳnh Kim T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cấp được tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Kim T.
Các bị cáo Huỳnh Kim T thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Kim T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ ngày 27/10/2024, lợi dụng chị Mai Thị Tuyết M sơ hở khi đậu xe mô tô biển số 66C1-431.19 ngoài lề đường và cắm sẵn chìa khóa trên xe, Huỳnh Kim T đã lén lút lấy trộm xe mô tô của chị M chạy đi, sau đó thì bị phát hiện bắt giữ. Tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt của chị M là 20.000.000 đồng, bao gồm tiền mặt 5.000.000 đồng trong cốp xe và giá trị xe mô tô của chị M được định giá là 15.000.000 đồng.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo Huỳnh Kim T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ
vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô biển số 66C1-431.19, với giá trị là 15.000.000 đồng và 5.000.000 đồng trong cốp xe, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.000.000 đồng của bị hại Mai Thị Tuyết M. Bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Kim T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Huỳnh Kim T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Kim T.
[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Huỳnh Kim T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Kim T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Kim T.
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim T 02 (hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt với bản án số 40/2025/HS-ST ngày 09/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo Huỳnh Kim T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là
03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024 được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 31/10/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc bị cáo Huỳnh Kim T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 140/2025/HS-PT ngày 28/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 140/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
