TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trâm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Hồng Hải
- Bà Trần Nguyệt Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hậu Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T, sinh năm 1982
- Bị đơn: Ông Lương Khánh C, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số H đường L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số H đường L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Huỳnh T trình bày:
Bà và ông Lương Khánh C là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66, quyển số 01/2004 do Ủy ban nhân dân cấp xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 22/10/2004.
Sau khi kết hôn, bà và ông Lương Khánh C chỉ hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, đến khoảng thời gian sau này thì vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả do khác nhau về quan điểm sống, tính tình trái ngược nên khó hòa hợp, hai bên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được. Hiện nay, bà và ông Lương Khánh C đang sống ly thân và không còn quan tâm lẫn nhau, mạnh ai nấy sống, tình cảm vợ chồng không còn dù đã cố gắng dùng mọi cách để hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy mục đích hôn nhân không còn đạt được nên việc ly hôn là giải pháp là giải pháp tốt nhất cho cả hai.
Về con chung: Bà và ông Lương Khánh C có 02 con chung là Lương Mỹ T1, giới tính: nữ, sinh ngày 17/06/2005 đã trưởng thành và trẻ Lương Tuấn K, giới tính: nam, sinh ngày 30/12/2010. Bà Nguyễn Thị Huỳnh T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lương Tuấn K sau ly hôn, không yêu cầu ông Lương Khánh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông Lương Khánh C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông Lương Khánh C không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – ông Lương Khánh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc cũng như không gửi văn bản ý kiến nên Tòa án không ghi nhận lời khai của ông Lương Khánh C trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Huỳnh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ông Lương Khánh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huỳnh T, về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T được ly hôn với ông Lương Khánh C; Về con chung: Giao con chung là trẻ Lương Tuấn K, giới tính: nam, sinh ngày 30/12/2010 cho bà Nguyễn Thị Huỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Lương Tuấn C1 cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Huỳnh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lương Khánh C, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án là Tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông Lương Khánh C có địa chỉ cư trú tại số H L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/3/2025, bị đơn – ông Lương Khánh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số H đường L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt văn bản tố tụng đối với ông Lương Khánh C theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông Lương Khánh C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Bà Nguyễn Thị Huỳnh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Huỳnh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thì Huỳnh T2 và ông Lương Khánh C tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 22/10/2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hoà giải tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà Nguyễn Thị Huỳnh T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Lương Khánh C. Đối với ông Lương Khánh C, theo kết quả xác minh của Công an P, Quận E ngày 17/3/2025 cho thấy ông Lương Khánh C, sinh năm 1976 có hộ khẩu thường trú tại số H L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh và thực tế đang cư trú tại địa phương. Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho ông C nhưng ông C không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không có giải pháp, phương án nào để cải thiện tình trạng hôn nhân để vợ chồng quay trở lại cùng chung sống, xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Huỳnh T và quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh T và ông Lương Khánh C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Trà T3 khai bà và ông Lương Khánh C có 02 con chung là Lương Mỹ T1, giới tính: Nữ, sinh ngày 17/06/2005 hiện đã trưởng thành và trẻ Lương Tuấn K, giới tính: Nam, sinh ngày 30/12/2010. Bà Nguyễn Thị Huỳnh T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Kiệt sau ly hôn, không yêu cầu ông Lương Khánh C cấp dưỡng nuôi con.
Xét, trẻ Lương Tuấn K hiện đang sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Huỳnh T, được bà Nguyễn Thị Huỳnh T nuôi dưỡng, trẻ K phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử có căn cứ giao trẻ Lương Tuấn K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với ông Lương Khánh C của bà Nguyễn Thị Huỳnh Trà
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Trà T3 khai bà và ông Lương Khánh C không có tài sản chung, không có nợ chung, nghĩa vụ dân sự chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[6] Về án phí:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Nguyễn Thị Huỳnh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 55, Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án Dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huỳnh Trà .
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T được ly hôn với ông Lương Khánh C (Giấy chứng nhận kết hôn số: số 66, quyển số 01/2004 ngày 22/10/2004 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Lương Tuấn K, giới tính: nam, sinh ngày 30/12/2010 cho bà Nguyễn Thị Huỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà người trực tiếp nuôi dưỡng cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Ngược lại, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Trà T3 khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Huỳnh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Huỳnh T đã nộp theo biên lai số 0036432 ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huỳnh T đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận: - THẨM PHÁN - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 5; - Chi cục THADS Quận 5; - UBND xã Chánh Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Bích Trâm |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA Trần Nguyệt Mai Đoàn Hồng Hải | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN Võ Thị Bích Trâm |
Bản án số 140/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 140/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
