Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc B, sinh năm 2003; Địa chỉ: TDP A, phường T, quận T, thành phố H. Có mặt.

Bị đơn: Anh Ngô Đức Q, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/02/2025, bản tự khai ngày 12/02/2025, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đã xác định như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc B và anh Ngô Đức Q tìm hiểu nhau một thời thời gian, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H (nay là quận T) vào ngày 13/12/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Ngoài ra, giữa chị B và bố, mẹ của anh Q cũng có xảy ra nhiều xích mích làm cho mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Đến giữa năm 2023, sau nhiều lần cãi vã và xung đột thì chị B đã bỏ về nhà bố mẹ ruột, sống ly thân với anh Q cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B xin được ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Chị Bùi Thị Ngọc B trình bày vợ chồng có 01 con chung là Ngô Đức Gia H, sinh ngày 17/01/2022, hiện nay con đang ở với chị B. Khi ly hôn, chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Ngọc B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Ngô Đức Q thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh Q vẫn vắng mặt nên không có lời khai của anh Q.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị Ngọc B, cho chị Bùi Thị Ngọc B được ly hôn với anh Ngô Đức Q. Về con chung: Giao con chung Ngô Đức Gia H, sinh ngày 17/01/2022 cho chị Bùi Thị Ngọc B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Ngô Đức Q không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Ngọc B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Bùi Thị Ngọc B phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Ngô Đức Q đang cư trú tại địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Đức Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không do trở ngại khách quan, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc B và anh Ngô Đức Q chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Xét về yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ngọc B, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị B, có cơ sở xác định: Vợ chồng sau khi kết hôn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã và không tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ giữa năm 2023 cho đến nay. Từ khi chị B có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh Q trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của chị B nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh Q không đến Tòa án, chứng tỏ anh Ngô Đức Q đã bỏ mặc hôn nhân của mình. Nhận thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị Bùi Thị Ngọc B và anh Ngô Đức Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Bùi Thị Ngọc B được ly hôn với anh Ngô Đức Q là đúng quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Bùi Thị Ngọc B xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Ngô Đức Gia H, sinh ngày 17/01/2022, hiện nay con đang ở với chị B. Xét thấy chị B đang có công việc và chỗ ở ổn định, cháu Ngô Đức Gia H hiện đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ nên cần giao cháu Ngô Đức Gia H, sinh ngày 17/01/2022 cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế, đúng quy định với pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị B rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị B trình bày có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ngọc B, cho chị Bùi Thị Ngọc B được ly hôn với anh Ngô Đức Q. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao con chung Ngô Đức Gia H, sinh ngày 17/01/2022 cho chị Bùi Thị Ngọc B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Ngô Đức Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Bùi Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị B đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002540 ngày 10/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, thành phố H.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - UBND phường Thuận An,
  • quận Thuận Hóa, thành phố Huế;
  • (ĐKKH ngày 12/12/2022)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 140/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger