|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2025
V/v: Tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
Hội thẩm nhân dân: Ông Đầu Khắc Dinh
Ông Trần Viết Ty
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Văn Chùy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1996
Đăng ký HKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.
-
* Bị đơn: Anh Lương Tuấn V, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn ngày 09/6/2020 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, tháng 02 năm 2023 chị T đi Nhật Bản xuất khẩu lao động. Ngày 18/11/2024 chị T trở về Việt Nam thăm gia đình, đến ngày 01/12/2024 anh V xúc phạm chửi mắng chị T do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được nên ngày 06/12/2024 chị T lại quay trở lại Nhật Bản làm việc. Từ đó đến nay chị T và anh V không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không hàn gắn được, trách nhiệm gia đình không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài để đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Tuấn V.
- Về con: Chị T và anh V có 01 con chung là cháu Lương Hoàng Tú A, sinh ngày 24/10/2020. Vợ chồng ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Tú A, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết.
- Về công nợ: Chị T không yêu cầu giải quyết.
* Tại biên bản xác minh ngày 10/4/2025 ông Lương Văn B (là bố đẻ của anh Lương Tuấn V) trình bày:
- Về hôn nhân: Anh V và chị T kết hôn do hai bên tự nguyện tìm hiểu, không bị lừa dối hay ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa nhưng thời gian đăng ký kết hôn cụ thể thì ông không biết. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ở cùng gia đình ông tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó vợ chồng đi làm ăn xa, một thời gian ông nghe thông tin chị T và anh V cãi nhau, thờ ơ lạnh nhạt, không quan tâm đến nhau. Hai gia dình cũng hòa giải, động viên nhiều lần nhưng không có kết quả. Vì mâu thuẫn trầm trọng nên chị T và anh V đã sống ly thân từ năm 2023. Đến cuối năm 2023 ông nghe tin chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nhưng ông cũng không rõ chị T đi vào thời gian nào. Việc anh V có biết chị T ly hôn hay không thì ông không biết vì từ lâu anh V không về thăm nhà. Nay chị T làm đơn ly hôn anh V thì ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh V đăng ký thường trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Đến nay anh V chưa thay đôi và không bị xóa đăng ký thường trú. Anh V đang đi lao động ở tỉnh ngoài, ông B cũng không nhớ thời điểm anh V đi và cũng không biết địa chỉ của anh V.
- Về con: Anh V và chị T có 01 con chung là cháu Lương Hoàng Tú A, sinh ngày 24/10/2020. Hiện tại cháu đang ở với bố mẹ đẻ của chị T, cháu khỏe mạnh, được đi học và chăm sóc tốt. Nếu chị T có nguyện vọng nuôi con và nhờ ông, bà ngoại hỗ trợ chị T chăm sóc cháu thì ông đồng ý.
- Về tài sản: Anh V và chị V có tài sản gì chung, riêng hay không và có yêu cầu giải quyết không thì ông không biết.
Ông B xin nhận tất cả các văn bản của Tòa án giao cho anh V và sẽ có trách nhiệm giao hoặc thông báo cho anh V biết.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn anh Lương Tuấn V.
- Về con chung: Công nhận anh chị có 01 con chung là cháu Lương Hoàng Tú A, sinh ngày 24/10/2020. Giao cháu Tú A cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị T không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ chung: Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị T chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V là: Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Nguyên đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh là thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay là Nhật Bản theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi, bổ sung khởi kiện ly hôn của chị T được lãnh sự quán Việt Nam tại O, Nhật Bản có địa chỉ tại 4-2-15, I, Sakai-dhi, Osaka-fu 590-0952 chứng thực ngày 20/01/2025 và ngày 14/4/2025. Tại biên bản xác minh ngày 10/4/2025 đối với ông Lê Văn Đ (bố đẻ của chị T) xác nhận chị T hiện đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vì vậy có căn cứ xác định hiện nay chị T đang ở Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Lương Tuấn V. Tại biên bản xác minh ngày 10/4/2025 đối với ông Lương Văn B (bố đẻ của anh Lương Tuấn V) xác nhận anh V đi lao động ở tỉnh ngoài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án triệu tập anh V nhưng anh V vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các giấy tờ, văn bản của Tòa án cho người thân của anh V là ông Lương Văn B – bố đẻ của anh V. Ngày 23/5/2025 Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất anh V vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp và tiến hành niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa xét xử vụ án anh V vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy anh Lương Tuấn V cố tình lần tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án lần thứ hai vắng mặt bị đơn anh Lương Tuấn V. Đối với chị Lê Thị T, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị T đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị T.
[2]. Về nội dung:
* Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V kết hôn năm 2020 trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ, ngày 09/6/2020 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy:
Sau khi kết hôn chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V sinh sống tại gia đình anh T1 tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên vợ chồng sống ly thân. Chị T đã đi lao động tại Nhật Bản từ năm 2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước hẳn. Còn anh V đi làm ăn ở các tỉnh ngoài, không rõ địa chỉ. Anh V có biết việc chị T làm đơn xin ly hôn nhưng cũng không thiết tha níu kéo mà có thái độ bỏ mặc. Như vậy chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
* Về con: Chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V có 01 con chung là cháu Lương Hoàng Tú A, sinh ngày 24/10/2020. Vợ chồng ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Tú A, hiện cháu Tú A đang ở cùng bố, mẹ đẻ của chị T được nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo. Xét nguyện vọng nuôi con của chị H là chính đáng, bởi lẽ cháu Tú A là con gái đang ở độ tuổi tâm, sinh lý chưa ổn định nên rất cần sự chăm sóc, dạy dỗ từ người mẹ. Hiện tại anh V vẫn đang đi lao động xuất khẩu tại các tỉnh ngoài. Từ những phân tích trên, xét thấy cần giao cháu Lương Hoàng Tú A cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị T không yêu cầu anh V đóng góp nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên cần được chấp nhận.
* Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Lê Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 177; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T đối với bị đơn anh Lương Tuấn V.
Xử: Vắng mặt chị Lê Thị T và anh Lương Tuấn V.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Lương Tuấn V.
-
Về con: Giao cháu Lương Hoàng Tú A, sinh ngày 24/10/2020 là con chung của vợ chồng cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Lê Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000836 ngày 13/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chấp nhận đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Anh Lương Tuấn V được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
5
Bản án số 140/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 140/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
