Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/DS-PT

Ngày: 07-3 - 2025

V/v: Tranh chấp chia thừa kế;

chia tài sản chung.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thu Huyền
Ông Đinh Như Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc "Tranh chấp chia thừa kế; chia tài sản chung;".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 213/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2024/QĐ-PT ngày 22/02/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị S, sinh năm 1940. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ S: Ông Tô Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 17/8/2023. Có mặt.

Bị đơn: Ông Tô Văn Đ, sinh năm 1963 (Con trai cụ S).

Địa chỉ: Số nhà E, thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Chị Tô Thị Kim O, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số nhà E, thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ: Luật sư Phạm Đắc H, Văn phòng L5, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số G, tổ D Trung tâm T15, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Tô Thị M, sinh năm 1959 (Con gái cụ S). Có mặt.
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  3. Bà Tô Thị T1, sinh năm 1961 (Con gái cụ S). Có mặt.
  4. Bà Tô Thị L, sinh năm 1968 (Con gái cụ S). Có mặt.
  5. Ông Tô Tiến Đ1, sinh năm 1970 (Con trai cụ S).
  6. Bà Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1976 (con dâu cụ S).
  7. Đều có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  8. Bà Tô Thị Thu H2, sinh năm 1974 (Con gái cụ S).
  9. Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  10. Ông Tô Thanh T, sinh năm 1982 (Con trai cụ S).
  11. Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1988 (Vợ ông T).
  12. Đều có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  13. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986 (Cháu ngoại cụ S).
  14. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ1, bà H1, bà H2, bà D, chị T2: Ông Tô Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 13/3/2024. Có mặt.

  15. Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1990 (Cháu ngoại cụ S).
  16. Người đại diện theo ủy quyền của anh T3: Bà Tô Thị T1, sinh năm 1961. Theo Giấy ủy quyền ngày 06/12/2024. Có mặt.

    Đều có địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Đ, Hà Nội.

  17. Bà Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm 1974 (Con dâu cụ S).
  18. Người đại diện theo ủy quyền của bà L1: Anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 13/01/2025. Có mặt.

  19. Anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000 (Con bà L1). Có mặt.
  20. Chị Tô Hải Y, sinh năm 2003 (Con bà L1).
  21. Người đại diện theo ủy quyền của chị Y: Anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 13/01/2025. Có mặt.

  22. Cụ Tô Thị T4, sinh năm 1942 (Em chồng cụ S). Đã chết ngày 22/9/2023.
  23. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T4:

    1. Ông Tô Hiến T5, sinh năm 1961; Xin vắng mặt.
    2. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    3. Bà Tô Thị T6, sinh năm 1965; Xin vắng mặt.
    4. Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    5. Bà Tô Hồng T7, sinh năm 1969; Xin vắng mặt.
    6. Địa chỉ Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    7. Bà Tô Thị Hồng Đ2, sinh năm 1972; Xin vắng mặt.
    8. Địa chỉ: Tổ A, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.

    9. Bà Tô Thị Hồng D1, sinh năm 1976; Xin vắng mặt.
    10. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    11. Bà Tô Thị Minh N, sinh năm 1978; Xin vắng mặt.
    12. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

    13. Bà Tô Thị Thanh H3, sinh năm 1985; Xin vắng mặt.
    14. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  24. Cháu Tô Quỳnh C, sinh năm 2016 (Con ông T, bà D).
  25. Cháu Tô Hải P, sinh năm 2017 (Con ông T, bà D).
  26. Người đại diện theo pháp luật của cháu Tô Quỳnh C và cháu Tô Hải P là: Ông Tô Thanh T và bà Hoàng Thị D.

  27. Bà Nguyễn Thị Q (Q1), sinh năm 1963 (Vợ ông Đ). Có mặt.
  28. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q: Luật sư Phạm Đắc H, Văn phòng L5, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số G, tổ D Trung tâm T15, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  29. Anh Tô Phúc T8, sinh năm 1990 (Con ông Đ, bà Q).
  30. Người đại diện theo ủy quyền của anh T8: Chị Tô Thị Kim O, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số nhà E, thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  31. Chị Tô Thị Kim O, sinh năm 1997 (Con ông Đ, bà Q). Có mặt.
  32. Đều có địa chỉ: Số nhà E, thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  33. Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ. Vắng mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn là ông Tô Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2021 và các bản tự khai tiếp theo, nguyên đơn trình bày:

Cụ có chồng là cụ Tô Hồng L2. Cụ L2 sinh năm 1942, chết ngày 24/11/2007, theo Bản sao Giấy chứng tử số 37, quyển số 01 do UBND xã N cấp ngày 17/09/2012. Vợ chồng cụ cùng sinh sống tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trong thời kỳ hôn nhân, cụ và cụ L2 sinh được 10 người con chung, trong đó có 01 người con sinh năm 1976, được khoảng vài ngày thì chết, chưa kịp đặt tên, chưa làm giấy khai sinh, hiện còn 09 người con gồm:

  1. Bà Tô Thị M, sinh năm 1959.
  2. Bà Tô Thị T1, sinh năm 1961.
  3. Ông Tô Văn Đ, sinh năm 1963.
  4. Bà Tô Thị L3, sinh năm 1965. Bà Tô Thị L3 chết ngày 07/11/2019. Trước khi bà L3 chết có 02 người con là chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1990. Đều trú tại: Đ, thôn N, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  5. Bà Tô Thị L, sinh năm 1968.
  6. Ông Tô Tiến Đ1, sinh năm 1970.
  7. Ông Tô Mạnh H4, sinh năm 1972. Ông Tô Mạnh H4 chết ngày 29/11/2017, trước khi chết ông H4 có vợ là bà Nguyễn Thị Mai L1 và có 02 người con là anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000 và chị Tô Hải Y, sinh năm 2003. Đều trú tại: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  8. Bà Tô Thị Thu H2, sinh năm 1974.
  9. Ông Tô Thanh T, sinh năm 1982.

Ngoài ra, cụ và cụ L2 không có con chung, con riêng hay người con nuôi nào khác.

Cụ Tô Hồng L2 chết không để lại di chúc.

Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng cụ cùng nhau tạo lập được các khối tài sản chung, cụ thể gồm:

Một là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/9/2003 mang tên hộ gia đình cụ Tô Hồng L2. Nguồn gốc đất là cha ông để lại.

Hai là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích theo bản đồ là 274m² (diện tích thực tế 388m²) tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Nguồn gốc do vợ chồng cụ được địa phương cấp giãn dân.

Nay cụ yêu cầu Tòa án giải quyết:

Thứ nhất, đề nghị chia tài sản chung của cụ và cụ Tô Hồng L2 đối với hai thửa đất:

  • + Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình cụ Tô Hồng L2 thành hai phần bằng nhau. Cụ Tô Hồng L2 được phần diện tích 512,5m², cụ S được sử dụng 512,5m², phần diện tích cụ S được quyền sử dụng thì đề nghị được hưởng phần có ngôi nhà thờ cấp 4.
  • + Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội thành hai phần bằng nhau. Cụ Tô Hồng L2 được phần diện tích 192,5m², cụ S được sử dụng 192,5m².

Thứ hai, cụ đề nghị chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản do cụ Tô Hồng L2 để lại đối với hai thửa đất nêu trên, cụ thể:

  • + Chia thừa kế đối với diện tích 512,5m² của thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội thành mười phần bằng nhau, cụ đề nghị được hưởng một phần tương đương với diện tích 51,25 m².
  • + Chia thừa kế đối với diện tích 192,5m² của thửa đất số 50, tờ bản đồ số 01, tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội thành mười phần bằng nhau, cụ đề nghị được hưởng một phần tương đương với diện tích 19,25m².

Như vậy, đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, cụ đề nghị được hưởng tổng cộng là 563,75m² và đề nghị được giao bằng hiện vật tại vị trí thửa đất có căn nhà cấp 4 trên đất. Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 01, cụ đề nghị được hưởng tổng cộng 211,75m².

* Bị đơn ông Tô Văn Đ trình bày:

Cụ Tô Hồng L2, sinh năm 1942 kết hôn với cụ Nguyễn Thị S, sinh năm 1940 vào những năm 1959-1960. Cụ L2 và cụ S sinh được 10 người con, trong số đó có 5 người con trai và 5 người con gái. Con gái lớn nhất sinh năm 1959, ông là Tô Văn Đ là con trai lớn. Trong 10 anh chị em có ông Tô Văn H5 chết năm 1976, khi chết rất nhỏ, khoảng vài ngày tuổi. Còn ông Tô Mạnh H4 chết năm 2017, bà Tô Thị L3 chết năm 2019. Hiện tại chỉ còn 04 chị em gái và 03 anh em trai.

Sinh thời cụ L2, cụ S được thừa hưởng tài sản của các cụ để lại là diện tích 1025m² đất ở tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, nay là thửa đất số 21, tờ bản đồ số 08, diện tích 1025m², bản đồ 364/1994-1996 thôn S. Diện tích này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình cụ Tô Hồng L2.

Năm 1982, ông nhập ngũ tham gia kháng chiến chống giặc tại biên giới phía Bắc (Lạng Sơn), lý do là con trai lớn trong gia đình. Năm 1983, ông xin về phép, tranh thủ kết hôn với bà Nguyễn Thị Q.

Sau khi kết hôn, bà Q sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 năm gian nằm trên thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² cùng bố mẹ đẻ của ông, lý do lức đó ông đang trong thời gian bộ đội, chưa ra quân. Năm 1984, ông về phép, do thấy gia đình đông anh em và hỏi ý kiến của lãnh đạo địa phương, ông đã làm đơn xin cấp đất giãn dân. Tháng 5/1985, sau khi được xuất ngũ, ông về chung sống cùng với vợ tại địa phương.

Năm 1985, chính quyền xã họp dân quân chính đảng và xét duyệt cho vợ chồng ông được 1 suất tiêu chuẩn đất giãn dân.

Tại thời điểm đo đất giãn dân, vợ ông là bà Nguyễn Thị Q là người tham gia gắp phiếu cùng 15 hộ gia đình, trong đó có hộ gia đình ông Kính N1, ông Nam T9, ông Tám S1...ở gần nhà ông. Bà Q gắp được thửa đất có vị trí như sau:

  • + Phía Nam giáp ngõ đi.
  • + Phía Đông giáp nhà ông Đoạt P1 và bà Đ3.
  • + Phía Bắc giáp nhà ông Mai Đ4, ông Tám S1.
  • + Phía Tây giáp nhà ông N, ông Kính N1.

Đầu năm 1987, vợ chồng ông sinh anh Tô Phong T10, do thấy sinh hoạt gia đình bất tiện nên vợ chồng ông được sự ủng hộ của bố mẹ cùng toàn thể anh em gia đình, vợ chồng ông đã ra làm căn nhà cấp bốn 3 gian lợp ngói ta, diện tích 40 m² và đào đất đóng gạch để làm công trình phụ. Năm 1989, con ông là Tô Phong T10 chết do bị ngã xuống thùng đóng gạch. Cùng năm 1989, vợ chồng ông xây dựng tiếp chuồng trại chăn nuôi diện tích 35m².

Năm 1997, vợ chồng ông sinh anh Tô Phúc T8. Sau đó, vợ chồng ông sinh tiếp chị Tô Thị Kim O tại nhà, đất do vợ chồng ông làm trên thửa đất được cấp giãn dân.

Diện tích đất ở giãn dân của vợ chồng ông được cấp tọa lạc tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, có tên trong bản đồ địa chính xã N quản lý, bản đồ 364/1994 - 1996, thửa đất số 50, tờ bản đồ số 01 diện tích 385m² mang tên Tô Văn Đ.

Năm 1999, cụ Tô Hồng L2 nói vợ chồng ông về và cho vợ chồng ông làm nhà trên diện tích đất của ông cha để lại. Vì thế vợ chồng ông làm ngôi nhà mái bằng bê tông, diện tích 80m² và diện tích nhà bếp tại phần đuôi ngôi nhà mái bằng là 20m². Năm 2007, cụ Tô Hồng L2 chết không để lại di chúc.

Do bà N2 cùng thôn không có chỗ ở và gia đình ông chưa sử dụng đến ngôi nhà làm trên đất ở được cấp giãn dân nên vợ chồng ông có cho bà N2 thuê ngôi nhà cấp bốn để ở và sinh sống từ năm 2000 đến năm 2013.

Năm 2016, vợ chồng ông có dỡ căn nhà bê tông kiên cố 80m² trên thửa đất có diện tích đất 1025m² và thay vào đó được sự đồng ý của cụ Nguyễn Thị S, vợ chồng ông xây dựng ngôi nhà 3 tầng bê tông kiên cố, diện tích sàn 98m².

Năm 2018, ông đi làm công trình xây dựng xa tại Thái Nguyên nên vợ con ông sinh sống trên diện tích bố mẹ đẻ cho, ít quan tâm đến thửa đất giãn dân. Vì vậy không hiểu vì sao cụ Nguyễn Thị S thuê anh T11 là người cùng xóm ủi dỡ căn nhà, công trình phụ của vợ chồng ông trên diện tích đất giãn dân. Sau khi về biết sự việc mẹ ông thuê người dỡ nhà của vợ chồng ông, ông hỏi vì sao mẹ lại cho người dỡ nhà của vợ chồng ông, cụ S nói là muốn chia đất đó cho các con, ông không đồng ý vì đó là tiêu chuẩn đất giãn dân của vợ chồng ông, cụ S không có quyền. Diện tích đất giãn dân này là của vợ chồng ông, ông là người đứng tên trên bản đồ địa chính, hàng năm vợ chồng ông đóng đầy đủ và hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước. Do nhà, đất ở trước ngày 15/10/1993, có tên trong bản đồ địa chính, đang sử dụng hợp pháp, không bị nhắc nhở và không bị xử phạt hành chính nên theo Luật đất đai vợ chồng ông là người sử dụng hợp pháp.

Đầu năm 2021, gia đình cụ S có tổ chức họp và đưa ra ý kiến: Chia thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² làm 4 phần bằng nhau cho 4 anh em trai. Chia thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích 385m² của vợ chồng ông làm 2 phần bằng nhau: một nửa cho vợ chồng ông đứng tên, nửa còn lại chia cho các chị em gái nhưng vợ chồng ông không đồng ý. Sau đó, bà Tô Thị L có hỏi ông là bán một nửa cho bà ấy, nhưng vợ chồng ông không bán.

Nay, cụ S khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế diện tích 1025 m² làm hai phần bằng nhau, theo đó cụ S được hưởng 1/2, còn 1/2 chia theo pháp luật di sản của cụ L2 để lại: Ông có ý kiến là khi ông làm nhà cụ S, cụ L2 đã cho làm thì đề nghị Tòa xem xét cho ông phần này.

Cụ S yêu cầu chia 385m² đất ở của vợ chồng ông được cấp tiêu chuẩn giãn dân do ông đứng tên là không đúng pháp luật. Lý do vì diện tích đất này không phải là tài sản chung của cụ L2, cụ S nên không phải là di sản thừa kế và không chia được.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Tô Thanh T, bà Tô Thị T1, bà Tô Thị L, bà Tô Thị M, ông Tô Tiến Đ1, bà Tô Thị Thu H2: Đều đồng ý với ý kiến, quan điểm của cụ Nguyễn Thị S về chia tài sản chung và chia thừa kế di sản của cụ L2 và đều yêu cầu được hưởng bằng hiện vật.

- Bà Nguyễn Thị Q, chị Tô Thị Kim O, anh Tô Phúc T8: Đồng ý với ý kiến, quan điểm của ông Tô Văn Đ.

- Bà Nguyễn Thị Mai L1 trình bày: Bà kết hôn với ông Tô Mạnh H4 năm 1999, ông H4 chết ngày 29/11/2017. Vợ chồng bà sinh được 02 người con là: Anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000 và chị Tô Hải Y, sinh năm 2003.

Năm 2015, vợ chồng bà có làm ngôi nhà 3 tầng trên diện tích khoảng 140m² tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội trên cơ sở bố mẹ chồng tức cụ Tô Hồng L2 và cụ Nguyễn Thị S cho, đã có khuôn viên riêng. Nhưng đến nay chưa tách sổ đỏ vì ông Tô Văn Đ không đồng ý. Nay, cụ Nguyễn Thị S yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội bà có ý kiến như sau: Bà nhất trí với ý kiến của cụ Nguyễn Thị S, mẹ con bà xin được hưởng phần thừa kế của chồng bà được hưởng của cụ L2 và tiếp tục được sử dụng phần đất mẹ con bà đang quản lý.

- Chị Nguyễn Thị T2 và người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Quang T3 trình bày: Mẹ anh chị là bà Tô Thị L3, sinh năm 1965. Bà L3 chết ngày 07/11/2019. Chị và anh T3 là cháu ngoại của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2.

Về yêu cầu chia thừa kế của cụ S thì anh chị có ý kiến như sau: Toàn bộ phần tài sản thừa kế bà Tô Thị L3 được hưởng của cụ L2 thì anh chị xin từ chối nhận, không yêu cầu hưởng. Tài sản đó anh chị tự nguyện giao lại cho bà ngoại là cụ Nguyễn Thị S.

- Cụ Tô Thị T4 trình bày: Bố cụ là Tô Văn M1, sinh năm 1910, chết năm 1979. Mẹ cụ là Nguyễn Thị T12, sinh năm 1910, chết năm 2003. Bố mẹ cụ sinh được 02 người con là Tô Hồng L2, sinh năm 1942, chết ngày 24/11/2007 và Tô Thị T4, sinh năm 1942. Ngoài ra bố mẹ cụ không có người con nào khác.

Cụ không yêu cầu gì về di sản thừa kế của bố mẹ để lại liên quan đến thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² tại thôn S, xã N, huyện Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình ông Tô Hồng L2 và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, tại thôn S, xã N, huyện Đ mà UBND xã N giao cho hộ gia đình cụ Nguyễn Thị S. Cụ tự nguyện nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế của bố mẹ để lại (nếu có) cho vợ chồng cụ Tô Hồng L2 và cụ Nguyễn Thị S. Cụ không đòi hỏi bất kỳ quyền lợi gì về di sản thừa kế của bố mẹ.

Tại phiên tòa ngày 23/9/2022:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết:

  • + Đề nghị chia tài sản chung của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2 đối với hai thửa đất gồm: Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m² cùng ngôi nhà 05 gian cấp 4 gắn liền đất và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích 274m² tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội thành hai phần bằng nhau.
  • + Chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của cụ Tô Hồng L2 để lại đối với hai thửa đất nêu trên.
  • + Nguyên đơn không yêu cầu gì về các tài sản khác gắn liền đất, mà thuộc phần đất của ai được chia thì người đó có quyền sở hữu.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Q có quan điểm:

  • + Đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8, diện tích 1025m²: Trước khi cụ Tô Hồng L2 chết thì cụ L2 và cụ S đã cho vợ chồng ông Đ làm nhà trên diện tích 160m² đất mặc dù không thể hiện bằng văn bản. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chia cho vợ chồng ông Đ giữ nguyên hiện trạng đang quản lý.
  • + Đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1: Cụ Nguyễn Thị S không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc được cấp đất, không có biên bản họp gia đình liên quan đến thửa đất này. Vợ chồng ông Đ là người nộp thuế sử dụng đất, tiêu chuẩn được cấp đất giãn dân là của vợ chồng ông Đ. Theo Nghị quyết số 02/2004 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: Đất không có giấy tờ gì, không có tài sản trên đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND các cấp, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q, chị Tô Thị Kim O nhất trí với quan điểm của luật sư.

- Ông Tô Thanh T nhất trí với quan điểm của cụ S.

- Bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1: Đề nghị được hưởng thừa kế di sản của cụ Tô Hồng L2 bằng hiện vật và đề nghị được đứng tên quyền sử dụng chung 01 thửa đất.

- Bà Tô Thị L: Đề nghị được hưởng thừa kế di sản của cụ Tô Hồng L2 bằng hiện vật và đề nghị được đứng tên quyền sử dụng chung 01 thửa đất với bà Tô Thị Thu H2.

- Bà Nguyễn Thị Mai L1 đề nghị chia cho mẹ con bà giữ nguyên hiện trạng như các công trình vợ chồng bà đã xây dựng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 77/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị S về việc Chia tài sản chung và Chia thừa kế đối với ông Tô Văn Đ.
  2. Về quan hệ chia tài sản chung: Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2 gồm:
    • - Quyền sử dụng 1.025m² đất tại thửa số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội, trong đó 300 m² đất ở trị giá 40.000.000 đồng/ m² = 12.000.000.000 đồng và 725m² đất vườn liền kề trị giá 35.000.000 đồng/m² = 25.375.000.000 đồng.
    • - Ngôi nhà 05 gian cấp 4 trị giá 10.655.500 đồng.
    • - Quyền sử dụng 274m² tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá 27.000.000 đồng/m² = 7.398.000.000 đồng.

    Tổng cộng bằng: 44.783.655.500 đồng (Bốn mươi bốn tỷ, bẩy trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).

    Chia tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người hưởng 1/2 = 22.391.827.750 đồng, làm tròn số thành 22.391.828.000 đồng. Kỷ phần của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người được chia là 22.391.828.000 đồng ( Hai mươi hai tỷ, ba trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).

  3. Về quan hệ chia thừa kế:
    • - Cụ Tô Hồng L2 chết ngày 24/11/2007, còn thời hiệu chia thừa kế.
    • - Thời điểm mở thừa kế của cụ Tô Hồng L2 là ngày 24/11/2007.
    • - Cụ Tô Hồng L2 chết không để lại di chúc, di sản thừa kế của cụ L2 được chia theo pháp luật.
    • - Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tô Hồng L2 gồm: Cụ Nguyễn Thị S, bà Tô Thị M, bà Tô Thị T1, ông Tô Văn Đ, các con của bà Tô Thị L3 (là chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3), bà Tô Thị L, ông Tô Tiến Đ1, các con của ông Tô Mạnh H4 (là anh Tô Hoàng A và chị Tô Hải Y), bà Tô Thị Thu H2, ông Tô Thanh T.

    Di sản của cụ Tô Hồng L2 trị giá 22.391.828.000 đồng, được chia làm 10 = 2.239.182.800 đồng. Mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế là 2.239.182.800 đồng.

    • - Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3 nhường kỷ phần được hưởng thừa kế cho cụ Nguyễn Thị S.
    • - Tổng tài sản của cụ Nguyễn Thị S được chia và được hưởng thừa kế của cụ L2, được nhận kỷ phần của bà L3, trị giá 26.870.193.600 đồng.
    • - Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị S không yêu cầu chia các tài sản gắn liền đất mà tài sản thuộc phần đất của ai được chia thì người đó có quyền sở hữu.
    • - Ghi nhận sự tự nguyện của tất cả các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về thừa kế của ông Tô Mạnh H4 và bà Nguyễn Thị L4.
  4. Giao cụ thể bằng hiện vật như sau:
    1. Giao cho cụ Nguyễn Thị S có quyền sử dụng: 60m² đất ở và 340,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 và sở hữu ngôi nhà 05 gian cấp bốn gắn liền đất có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội, trị giá 14.317.655.500 đồng. So với phần tài sản cụ S được chia và được hưởng thừa kế còn thiếu 12.552.538.100 đồng (Mười hai tỷ, năm trăm năm mươi hai triệu, năm trăm ba mươi tám nghìn, một trăm đồng).
    2. Giao cho vợ chồng ông Tô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Q có quyền sử dụng: 60m² đất ở và 98,6m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá 5.851.000.000 đồng. So với kỷ phần ông Đ được hưởng thừa 3.611.817.200 đồng (Ba tỷ, sáu trăm mười một triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    3. Giao cho ông Tô Tiến Đ1 có quyền sử dụng: 60m² đất ở và 100m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá 5.900.000.000 đồng. So với kỷ phần ông Đ1 được hưởng thừa 3.660.817.200 đồng (Ba tỷ, sáu trăm sáu mươi triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    4. Giao cho bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có quyền sử dụng: 60m² đất ở và 96,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá 5.767.000.000 đồng. So với kỷ phần các con bà L1 được hưởng thừa 3.527.817.200 đồng (Ba tỷ, năm trăm hai mươi bẩy triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    5. Giao cho vợ chồng ông Tô Thanh T và bà Hoàng Thị D có quyền sử dụng: 60m² đất ở và 90m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá 5.550.000.000 đồng. So với kỷ phần ông T được hưởng thừa 3.310.817.200 đồng (Ba tỷ, ba trăm mười triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    6. Giao cho bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 có quyền sử dụng chung 137m² đất phía Tây tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá 3.699.000.000 đồng. So với kỷ phần bà M, bà T1 được hưởng còn thiếu 1.167.548.400 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi bẩy triệu, năm trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm đồng).
    7. Giao cho bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 có quyền sử dụng chung 137m² đất phía Đông tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá 3.699.000.000 đồng. So với kỷ phần bà L, bà H2 được hưởng còn thiếu 1.167.548.400 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi bẩy triệu, năm trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm đồng).
    8. Tài sản trên phần đất của ai người đó có quyền sở hữu.
  5. Ranh giới đất: Có hồ sơ kỹ thuật kèm theo Bản án.
  6. Về nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản được chia:
    1. Vợ chồng ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho:
      • Cụ Nguyễn Thị S số tiền 1.276.720.400 đồng (Một tỷ, hai trăm bẩy mươi sáu triệu, bẩy trăm hai mươi nghìn, bốn trăm đồng).
      • Bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 tổng số tiền 1.167.548.400 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi bẩy triệu, năm trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm đồng).
      • Bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 tổng số tiền 1.167.548.400 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi bẩy triệu, năm trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm đồng).
    2. Ông Tô Tiến Đ1 có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.660.817.200 đồng (Ba tỷ, sáu trăm sáu mươi triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    3. Bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.527.817.200 đồng (Ba tỷ, năm trăm hai mươi bẩy triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
    4. Vợ chồng ông Tô Thanh T, bà Hoàng Thị D có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.310.817.200 đồng (Ba tỷ, ba trăm mười triệu, tám trăm mười bẩy nghìn, hai trăm đồng).
  7. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn là ông Tô Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Q: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 213/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh và đề nghị Tòa án:

  • + Định giá lại giá đất trồng cây lâu năm đối với thửa đất có diện tích 1025m².
  • + Yêu cầu điều tra xác minh Sổ mục kê thửa đất số 50, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn S, xã N, bản đồ 364/1004-1996 lý do xã N báo cáo mất Sổ mục kê thì phải có Văn bản yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cung cấp Sổ mục kê thửa đất để làm rõ ai đang đứng tên trên Sổ mục kê? Nếu không xác minh được thì yêu cầu bác phần đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 01, địa chỉ Thôn S, xã N, bản đồ 364/1004-1996, diện tích 274m² vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án lý do: Giấy chứng nhận ngày 11/02/1988 do ông Vũ Văn T13 xác nhận không phải là quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền. Mặt khác, giấy xác nhận đăng ký đất đai số 1862/GXN-VPĐKĐĐ không phải là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự thống nhất được thời điểm mở thừa kế; hàng thừa kế, di sản kế và giá trị di sản thừa kế nhưng không thỏa thuận với nhau được cách giải quyết vụ án.

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q và ông Đ trình bày quan điểm theo bản luận cứ: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, không triệu tập những người xác nhận đối với diện tích đất tranh chấp để thẩm tra, xác minh như ông Vũ Văn T13, bà Nguyễn Thị P2; xác định không đúng di sản thừa kế, diện tích thửa đất 385m² là của vợ chồng ông Đ, bà Q thuộc tiêu chuẩn giãn dân cấp cho vợ chồng ông Đ, bà Q, chứ không phải là di sản của cụ Tô Hồng L2 và cụ Nguyễn Thị S2 nên không thể chia thừa kế, cấp phúc thẩm không thể bổ sung chia tại cấp phúc thẩm và đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa án sơ thẩm số 71/2022DS-ST ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, theo hướng:

  • - Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ, bà Q.
  • - Sửa Bản án sơ thẩm số 213/2022/DSST ngày 23/9/2022 của TAND huyện Đông Anh về nội dung:
    • + Trích công sức quản lý, duy trì tôn tạo di sản thừa kế của cụ L2 cho cụ S và vợ chồng ông Đ = 1/2 kỷ phần thừa kế.
    • + Cụ S phải thanh toán tiền thuế quyền sử dụng đất phi nông nghiệp từ năm 2014-2022 đối với thửa đất 50 tờ bản đồ số 01, diện tích 274m² tại thôn S, N, Đ Hà Nội cho ông Đ.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm bị sửa nên các đương sự được hoàn trả án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị đơn ông Tô Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q nộp trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí nên hợp lệ về hình thức.

Ngoài ra, cụ T4 chết ngày 22/9/2023 (cụ T4 là em chồng của cụ S), những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T4 gồm: Ông Tô Hiến T5, bà Tô Thị T6, bà Tô Hồng T7, bà Tô Thị Hồng Đ2, bà Tô Thị Hồng D1, bà Tô Thị Minh N, bà Tô Thị Thanh H3. Tòa án cấp phúc thẩm đã bổ sung người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T4 vào tham gia tố tụng và đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà: có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ có liên quan là người kháng cáo có mặt. Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu kháng cáo của ông Tô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Q kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, nhận thấy:

2.1. Về quan hệ chia thừa kế:

  • - Cụ Tô Hồng L2 chết ngày 24/11/2007, còn thời hiệu chia thừa kế.
  • - Thời điểm mở thừa kế của cụ Tô Hồng L2 là ngày 24/11/2007.
  • - Cụ Tô Hồng L2 chết không để lại di chúc, di sản thừa kế của cụ L2 được chia theo pháp luật.
  • - Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tô Hồng L2 gồm: Cụ Nguyễn Thị S, bà Tô Thị M, bà Tô Thị T1, ông Tô Văn Đ, các con của bà Tô Thị L3 (là chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3), bà Tô Thị L, ông Tô Tiến Đ1, vợ và các con của ông Tô Mạnh H4 (là bà Nguyễn Thị Mai L1, anh Tô Hoàng A và chị Tô Hải Y), bà Tô Thị Thu H2, ông Tô Thanh T.

2.2. Về di sản thừa kế

Cụ S và những người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đứng về phía cụ S xác định: thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 diện tích 1025m² đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số W539495 ngày 24/9/2003 cho hộ gia đình ông Tô Hồng L2 và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích 274m² (đất giãn dân - diện tích thực tế sử dụng 388m²) được cấp cho vợ chồng cụ S năm 1988.

Ông Đ và bà Q cho rằng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích 274m² là địa phương cấp giãn dân cho vợ chồng ông bà năm 1985.

Nhận thấy:

- Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ do Văn phòng ĐKĐĐ Chi nhánh huyện Đ cung cấp gồm đơn xin cấp GCNQSDĐ, Biên bản kiểm tra hiện trạng, Bản cam kết thể hiện: Nguồn gốc đất là của cha ông để lại, đề nghị cấp GCN cho chủ sử dụng là hộ gia đình ông L2, gồm 08 người là: Tô Hồng L2, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị T12 (mẹ ông L2), Tô Mạnh H4, Tô Thị Thu H2, Tô Thanh T, Tô Tiến Đ1, Phạm Thị Thanh H1 (con dâu cụ S). Tại bản cam kết ngày 20/8/2002 (BL 143) thể hiện hộ gia đình 08 người đồng ý để cụ L2 đứng tên đại diện gia đình kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ. Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của cụ Tô Thị T4 (con cụ T12) có quan điểm không yêu cầu chia thừa kế, nhường toàn bộ kỷ phần cho vợ chồng cụ S. Ngày 22/9/2023 cụ T4 chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ T4 vẫn giữ nguyên quan điểm của cụ T4.

Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa đưa bà H1 vào tham gia tố tụng. Tại cấp phúc thẩm Tòa án đã bổ sung tư cách tham gia tố tụng đối với bà H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bà H1 đã ủy quyền cho ông Tô Thanh T (con trai cụ S-em chồng). Lời khai của ông Tô Tiến Đ1 là chồng bà H1 tại Bản tự khai ngày 07/01/2022 (BL 105) cho biết ông Đ1 kết hôn với bà H1 năm 2000, vợ chồng ông không sinh sống trên 02 thửa đất đang tranh chấp, cụ S yêu cầu chia tài sản và chia thừa kế, vợ ông không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến các tài sản trên. Như vậy, mặc dù bà H1 có tên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp GCN nhưng bà H1 không có công sức đóng góp gì vào việc hình thành khối tài sản là 02 thửa đất đang tranh chấp.

Quá trình kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù đứng tên hộ gia đình, nhưng xét về nguồn gốc hình thành quyền sử dụng đất là của cụ L2 được thừa hưởng từ bố mẹ để lại, các con không có đóng góp gì trong việc hình thành nên Tòa án sơ thẩm xác định thửa đất số 21, diện tích 1025m² (gồm 300m² đất ở và 725m² đất vườn liền kề) là tài sản chung của cụ L2 và cụ S là có cơ sở.

* Về kết quả định giá của Hội đồng đối với giá trị quyền sử dụng đất: Ông Đ, bà Q kháng cáo cho rằng Hội đồng định giá cấp sơ thẩm định giá đất ở là 40.000.000đ/m², đất vườn 35.000.000đ/m² là không phù hợp, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại

Theo quy định tại Điều 104 BLTTDS năm 2015, việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng định giá tài sản được thành lập bởi các cơ quan chuyên môn độc lập với Tòa án. Ông Đ, bà Q không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh kết quả định giá là không đúng nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông bà về nội dung này.

* Về thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1, diện tích 274m² (đất giãn dân – diện tích thực tế sử dụng 388m²): Ông Đ, bà Q kháng cáo cho rằng thửa đất số 50 là của ông bà được giao đất giãn dân năm 1985, đây được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng cấp sơ thẩm không yêu cầu ông bà nộp tạm ứng án phí là vi phạm tố tụng.

Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện xác định thửa đất số 50 là của cụ L2, cụ S được giao đất giãn dân và yêu cầu chia thừa kế, chia tài sản chung với thửa đất này. Ông Đ, bà Q có đơn phản tố ngày 09/9/2022 và đơn phản tố bổ sung đề ngày 11/9/2022 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với thửa đất số 50 vì thửa đất này là của vợ chồng ông được cấp theo tiêu chuẩn đất giãn dân. Yêu cầu trên của ông Đ, bà Q là trình bày quan điểm phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình giải quyết yêu cầu của các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, nhận định đối với các yêu cầu, quan điểm, ý kiến của đương sự đưa ra. Hơn nữa, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS quy định yêu cầu phản tố phải được đưa ra trước phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ngày 09/9/2022 ông Đ bà Q mới có đơn phản tố là sau phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 02/8/2022. Do vậy, kháng cáo của ông Đ, bà Q về việc Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng khi không thụ lý yêu cầu phản tố, không yêu cầu ông bà nộp tạm ứng án phí là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với việc ông Đ, bà Q cho rằng bản án sơ thẩm căn cứ Giấy chứng nhận sở hữu đất thổ cư ngày 11/2/1988 và Giấy xác nhận số 1862 ngày 05/5/2017 của Văn phòng Đ5 Chi nhánh huyện Đ cấp để xác định đất là của cụ L2, cụ S là không có cơ sở, các tài liệu này không phải là GCNQSDĐ, quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền, đề nghị cấp phúc thẩm xác minh sổ mục kê tại Sở T để làm rõ ai là người đứng tên trong sổ mục kê đối với thửa đất. Xét thấy, quá trình giải quyết, các đương sự đều xác nhận thửa đất số 50 có nguồn gốc là đất giãn dân do HTX cấp. Phía nguyên đơn cho rằng đất do cụ L2 làm đơn xin và cấp cho vợ chồng cụ L2, cụ S và cung cấp Giấy chứng nhận sở hữu đất thổ cư ngày 11/02/1988 (bản gốc) và Giấy xác nhận số 1862 ngày 05/5/2017 của Văn phòng ĐKĐĐ Chi nhánh huyện Đ làm căn cứ chứng minh. Còn bị đơn cho rằng đất cấp do ông Đ làm đơn xin và cấp cho vợ chồng ông Đ, bà Q nhưng không cung cấp được tài liệu gì chứng minh.

Ông Đ, bà Q trình bày ông bà đã được ghi tên chủ sử dụng trong sổ mục kê của UBND từ năm 1985 và đã làm nhà trên đất nhưng UBND xã không cung cấp và cho biết bị mất đề nghị xác minh tại Sở T.

Nhận thấy: Theo quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Đất đai 2003 thì “Sổ mục kê đất đai” là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi các thửa đất và các thông tin về thửa đất đó, mà UBND xã là cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương đã cho biết hiện nay không lưu giữa bất kỳ tài liệu địa chính nào khác liên quan đến thửa đất. Hơn nữa, sổ mục kê chỉ là tài liệu để ghi lại thông tin sử dụng về thửa đất không phải là tài liệu có ý nghĩa xác định quyền sử dụng đất trừ “Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980" theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Do vậy, đề nghị xác minh tại Sở T về sổ mục kê từ năm 1985 theo đề nghị của ông Đ, bà Q là không cần thiết phải.

Qua xác minh tại UBND xã N cho biết nguồn gốc đất do HTX cấp cho hộ gia đình cụ S trước ngày 15/10/1993, tuy nhiên hiện chỉ có bản đồ địa chính năm 1994 (không thể hiện tên chủ sử dụng đất), ngoài ra xã không còn lưu giữ được tài liệu địa chính nào khác liên quan đến thửa đất và hồ sơ liên quan đến việc giao đất cho hộ gia đình cụ S, cụ L2 vì vậy không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện tiêu chuẩn cấp đất giãn dân thời điểm đó hộ cụ L2 gồm những ai.

Xét thấy: Đối với Giấy chứng nhận sở hữu đất thổ cư ngày 11/02/1988 (BL09) là “Bản sao lại Quyết định 1987 vì lý do mất giấy quyết định” của UBND xã N, nội dung là giao đất ở cho hộ ông Tô Hồng L2. Mặc dù đây chỉ là bản sao lại nhưng được sao lại ngày 11/02/1988 là ngay sau thời điểm cấp đất năm 1987 và do UBND xã N thực hiện sao lại, nguyên đơn đã cung cấp được bản gốc nên có cơ sở để công nhận giá trị của văn bản này. Đồng thời, theo Giấy xác nhận số 1862 ngày 05/5/2017 của Văn phòng ĐKĐĐ Chi nhánh huyện Đ để ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất thể hiện người sử dụng đất là cụ S. Theo chính sách giao đất giãn dân ở của Nhà nước cấp cho cho cá nhân, cặp vợ chồng hoặc hộ gia đình có đông con, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống hoàn cảnh khó khăn về chỗ ở. Việc giao cho ai, cặp vợ chồng nào quản lý, sử dụng đất giãn dân là theo thỏa thuận của hộ gia đình. Theo đó, đất giãn dân cấp cho hộ gia đình cụ Liên từ năm 1987 đến nay vẫn do cụ S quản lý, sử dụng, những người con khác đều không ai có ý kiến phản đối gì. Ông Đ, bà Q cho rằng ông bà là người quản lý sử dụng, quá trình có xây dựng nhà cấp 4 trên đất nhưng sau này đã bị cụ S phá hiện không còn, thực tế hiện nay không có tài sản nào trên đất, cụ S và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn không thừa nhận nội dung này nên không có căn cứ để Tòa án xác định. Ngoài ra không có tài liệu chứng cứ chứng minh nào khác thể hiện ông Đ, bà Q là người được nhà nước giao và quản lý, sử dụng thửa đất này nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc xác định thửa đất số 50 được cấp cho vợ chồng ông Đ và thuộc quyền sử dụng của ông Đ, bà Q.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của cụ S, cụ L2 là có căn cứ. Ngoài ra, theo UBND xã N cho biết phần diện tích 274m² đất thể hiện trên bản đồ thửa đất 50, tờ bản đồ số 01 đủ điều kiện lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, phần diện tích sử dụng thừa so với bản đồ đề nghị Tòa án không giải quyết nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia tài sản, chia thừa kế đối với 274m² đất thuộc thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 là đúng quy định pháp luật.

Về việc trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ bà Q trình bày đã nộp thuế sử dụng đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ và xem xét quyền lợi của vợ chồng ông Đ liên quan tới số tiền nộp thuế sử dụng đất là thiếu sót, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Đ. Tại cấp phúc thẩm, Toà án đã được Chi cục thuế huyện Đ cho biết ông Đ là người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với diện tích đất 274m² tại thôn S từ năm 2014 - 2022 với số tiền là 1.017.965 đồng.

2.3. Xác định tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2 gồm:

  • - Quyền sử dụng 1.025m² đất tại thửa số 21, tờ bản đồ số 8 có địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trong đó 300m² đất ở trị giá 40.000.000 đồng/ m² = 12.000.000.000 đồng và 725m² đất vườn liền kề trị giá 35.000.000 đồng/m² = 25.375.000.000 đồng.
  • - Ngôi nhà 05 gian cấp bốn trị giá 10.655.500 đồng.
  • - Quyền sử dụng 274m² tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá 27.000.000 đồng/m² = 7.398.000.000 đồng.

Tổng cộng bằng: 44.783.655.500 đồng.

Chia tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người hưởng 1/2 = 22.391.827.750 đồng, làm tròn số thành 22.391.828.000 đồng. Kỷ phần của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người được hưởng là 22.391.828.000 đồng.

Di sản thừa kế của cụ Tô Hồng L2 là 22.391.828.000 đồng.

2.4. Xét yêu cầu chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị S:

- Về quan hệ gia đình: Vợ chồng cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2 sinh được 10 người con chung, trong đó có 01 người con sinh năm 1976, được khoảng vài ngày thì chết, hiện còn 09 người con gồm:

  1. Bà Tô Thị M, sinh năm 1959.
  2. Bà Tô Thị T1, sinh năm 1961.
  3. Ông Tô Văn Đ, sinh năm 1963.
  4. Bà Tô Thị L3, sinh năm 1965. Bà Tô Thị L3 chết ngày 07/11/2019. Trước khi bà L3 chết có 02 người con là chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1990.
  5. Bà Tô Thị L, sinh năm 1968.
  6. Ông Tô Tiến Đ1, sinh năm 1970.
  7. Ông Tô Mạnh H4, sinh năm 1972. Ông Tô Mạnh H4 chết ngày 29/11/2017, trước khi chết ông H4 có vợ là bà Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm 1974. Ông H4 và bà L1 có 02 người con là anh Tô Hoàng A, sinh năm 2000 và chị Tô Hải Y, sinh năm 2003.
  8. Bà Tô Thị Thu H2, sinh năm 1974
  9. Ông Tô Thanh T, sinh năm 1982

Ngoài ra, cụ S và cụ L2 không có con chung, con riêng hay người con nuôi nào khác.

Cụ Tô Hồng L2 chết ngày 24/11/2007, còn thời hiệu chia thừa kế.

Thời điểm mở thừa kế của cụ Tô Hồng L2 là ngày 24/11/2007.

Cụ Tô Hồng L2 không để lại di chúc, nên di sản thừa kế của cụ L2 được chia theo pháp luật.

Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tô Hồng L2 gồm: Cụ Nguyễn Thị S, bà Tô Thị M, bà Tô Thị T1, ông Tô Văn Đ, các con của bà Tô Thị L3 (là chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3), bà Tô Thị L, ông Tô Tiến Đ1, vợ và các con của ông Tô Mạnh H4 (là bà Nguyễn Thị Mai L1, anh Tô Hoàng A và chị Tô Hải Y), bà Tô Thị Thu H2, ông Tô Thanh T.

Như phân tích trên cần tính công sức tôn tạo cho cụ S và vợ chồng ông đồng mỗi người được hưởng 1/2 kỷ phần thừa kế. Vì vậy, di sản của cụ L2 sẽ chia 11 phần như sau: 22.391.828.000 : 11 = 2.035.620.727 đồng

Mỗi thừa kế được hưởng 01 kỷ phần là 2.035.620.727 đồng .

Riêng cụ S và vợ chồng ông Đ được mỗi bên được hưởng thêm 1.017.810.500 đồng (tiền công sức).

  • - Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3 (con bà L3) nhường kỷ phần được hưởng thừa kế cho cụ Nguyễn Thị S.
  • - Tổng tài sản của cụ Nguyễn Thị S được chia và được hưởng thừa kế của cụ L2, được nhận kỷ phần của bà L3, công sức đóng góp trị giá 22.391.828.000 đồng + 1.017.810.500 đồng + 2.035.620.727 đồng + 2.035.620.727 đồng = 27.480.879.954 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông Đ, bà Q gộp chung di sản thừa kế của ông Đ và công sức đóng góp tu tạo di sản vợ chồng chia chung một khối. Như vậy, vợ chồng ông Đ được hưởng 1.017.810.500 đồng + 2.035.620.727 đồng = 3.053.431.227 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị S không yêu cầu chia các tài sản gắn liền đất mà tài sản thuộc phần đất của ai được chia thì người đó có quyền sở hữu.

Ghi nhận sự tự nguyện của tất cả các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về thừa kế của ông Tô Mạnh H4 và bà Tô Thị L3.

2.5. Giao cụ thể bằng hiện vật như sau:

* Về việc chia thừa kế:

Cụ L2 chết năm 2007. Sau khi cụ L2 chết, nhà đất thuộc thửa số 21 tờ bản đồ số 8 diện tích 1025m² do cụ S và gia đình ông Đ quản lý sử dụng. Vợ chồng ông Đ đã sinh sống, xây dựng nhà 03 tầng trên đất, quá trình quản lý sử dụng đến nay là 18 năm. Khi chia thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm ưu tiên giao hiện vật cho cụ S vào phần đất trên có nhà của cụ S và cụ L2, giao cho ông Đ phần đất trên có nhà 03 tầng của ông Đ là phù hợp.

Giao cho cụ Nguyễn Thị S có quyền sử dụng:

  • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng.
  • + 340,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 11.907.000.000 đồng.
  • + Ngôi nhà 05 gian cấp 4 trị giá 10.655.500 đồng.

Tổng tài sản giao cho cụ Nguyễn Thị S có quyền sử dụng và sở hữu trị giá 14.317.655.500 đồng. So với phần tài sản cụ S được chia và được hưởng thừa kế còn thiếu 13.163.224.454 đồng.

Giao cho vợ chồng ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q có quyền sử dụng:

  • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng.
  • + 98,6m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.451.000.000 đồng.

Tổng trị giá: 5.851.000.000 đồng. So với kỷ phần ông Đ được hưởng thừa 2.797.568.773 đồng.

Giao cho ông Tô Tiến Đ1 có quyền sử dụng:

  • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng.
  • + 100m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.500.000.000 đồng.

Tổng trị giá: 5.900.000.000 đồng. So với kỷ phần ông Đ1 được hưởng thừa 3.864.379.273 đồng.

Giao cho bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có quyền sử dụng:

  • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng.
  • + 96,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.367.000.000 đồng.

Tổng trị giá: 5.767.000.000 đồng. So với kỷ phần các con bà L1 được hưởng thừa 3.731.379.273 đồng.

Giao cho vợ chồng ông Tô Thanh T, bà Hoàng Thị D có quyền sử dụng:

  • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng.
  • + 90m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.150.000.000 đồng.

Tổng trị giá: 5.550.000.000 đồng. So với kỷ phần ông T được hưởng thừa 3.514.379.273 đồng.

Giao cho bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 có quyền sử dụng chung: 137m² đất phía Tây tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá: 27.000.000 đồng/m² = 3.699.000.000 đồng. So với kỷ phần bà M, bà T1 được hưởng thiếu 372.241.454 đồng.

Giao cho bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 có quyền sử dụng chung: 137m² đất phía Đông tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá: 27.000.000 đồng/m² = 3.699.000.000 đồng. So với kỷ phần bà L, bà H2 được hưởng thiếu 372.241.454 đồng.

Tài sản trên phần đất của ai người đó có quyền sở hữu.

* Ranh giới đất: Có hồ sơ kỹ thuật kèm theo Bản án.

* Về nghĩa vụ thanh toán:

Vợ chồng ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho:

  • + Cụ Nguyễn Thị S số tiền 2.053.085.865 đồng.
  • + Bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 tổng số tiền 372.241.454 đồng.
  • + Bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 tổng số tiền 372.241.454 đồng.

Ông Tô Tiến Đ1 có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.864.379.273 đồng.

Bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.731.379.273 đồng.

Vợ chồng ông Tô Thanh T, bà Hoàng Thị D có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.514.379.273 đồng.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất và để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.

Từ phân tích trên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Tô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Q và sửa bản bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo hướng phân tích trên.

2.6. Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Cụ Nguyễn Thị S, ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q, bà Tô Thị T1, bà Tô Thị Minh T14 đến thời điểm thụ lý, xét xử vụ án đều trên 60 tuổi nên là người cao tuổi theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự khác phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật

- Án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, bà Q, ông Đ không phải chịu án phí theo quy định và được hoàn trả lại tiền tạm ứng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 634; 656; 659; 657 Bộ luật dân sự 1995; Điều khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Tô Văn Đ và bà Nguyễn Thị Q (Q1).
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 71/2022/DS-ST ngày 04/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị S về việc Chia tài sản chung và Chia thừa kế đối với ông Tô Văn Đ.
    2. Về quan hệ chia tài sản chung:

      Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2 gồm:

      • - Quyền sử dụng 1.025m² đất tại thửa số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội, trong đó 300m² đất ở trị giá 40.000.000 đồng/m² = 12.000.000.000 đồng và 725m² đất vườn liền kề trị giá 35.000.000 đồng/m² = 25.375.000.000 đồng.
      • - Ngôi nhà 05 gian cấp 4 trị giá 10.655.500 đồng.
      • - Quyền sử dụng 274m² tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá 27.000.000 đồng/m² = 7.398.000.000 đồng.

      Tổng cộng bằng: 44.783.655.500 đồng (Bốn mươi bốn tỷ, bẩy trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).

      Chia tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người hưởng 1/2 = 22.391.827.750 đồng, làm tròn số thành 22.391.828.000 đồng. Kỷ phần của cụ Nguyễn Thị S và cụ Tô Hồng L2, mỗi người được chia là 22.391.828.000 đồng ( Hai mươi hai tỷ, ba trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).

    3. Về quan hệ chia thừa kế:
      • - Cụ Tô Hồng L2 chết ngày 24/11/2007, còn thời hiệu chia thừa kế.
      • - Thời điểm mở thừa kế của cụ Tô Hồng L2 là ngày 24/11/2007.
      • - Cụ Tô Hồng L2 chết không để lại di chúc, di sản thừa kế của cụ L2 được chia theo pháp luật.
      • - Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tô Hồng L2 gồm: Cụ Nguyễn Thị S, bà Tô Thị M, bà Tô Thị T1, ông Tô Văn Đ, các con của bà Tô Thị L3 (là chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3), bà Tô Thị L, ông Tô Tiến Đ1, các con của ông Tô Mạnh H4 (là anh Tô Hoàng A và chị Tô Hải Y), bà Tô Thị Thu H2, ông Tô Thanh T.

      Di sản của cụ Tô Hồng L2 trị giá 22.391.828.000 đồng, được chia làm 10 = 2.239.182.800 đồng. Tuy nhiên như đã phân tích trên xác định công sức tôn tạo duy trì tài sản cho cụ sậu và vợ chồng ông Đ mỗi người được 1/2 kỷ phần thừa kế nên mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế là 2.032.620.700 đồng.

      • - Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Quang T3 nhường kỷ phần được hưởng thừa kế cho cụ Nguyễn Thị S.
      • - Tổng tài sản của cụ Nguyễn Thị S được chia và được hưởng thừa kế của cụ L2, được nhận kỷ phần của bà L3, trị giá 27.408.878.000 đồng.
      • - Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị S không yêu cầu chia các tài sản gắn liền đất mà tài sản thuộc phần đất của ai được chia thì người đó có quyền sở hữu.
      • - Ghi nhận sự tự nguyện của tất cả các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về thừa kế của ông Tô Mạnh H4 và bà Nguyễn Thị L4.
    4. Giao cụ thể bằng hiện vật như sau:
      1. Giao cho cụ Nguyễn Thị S có quyền sử dụng:
        • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng).
        • + 340,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 11.907.000.000 đồng (Mười một tỷ chín trăm linh bảy triệu đồng).
        • + Ngôi nhà 05 gian cấp 4 trị giá 10.655.500 đồng (Mười triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

        Tổng tài sản giao cho cụ Nguyễn Thị S có quyền sử dụng và sở hữu trị giá 14.317.655.500 đồng (Mười bốn tỷ ba trăm mười bảy triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng). So với phần tài sản cụ S được chia và được hưởng thừa kế còn thiếu 13.163.224.454 đồng (Mười ba tỷ một trăm sáu mươi ba triệu hai trăm hai mươi tư nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).

      2. Giao cho vợ chồng ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q có quyền sử dụng:
        • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng).
        • + 98,6m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.451.000.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi mốt triệu đồng).

        Tổng trị giá: 5.851.000.000 đồng (Năm tỷ tám trăm năm mươi mốt triệu đồng). So với kỷ phần ông Đ được hưởng thừa 2.797.568.773 đồng (Hai tỷ bảy trăm chín mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi ba đồng).

      3. Giao cho ông Tô Tiến Đ1 có quyền sử dụng:
        • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng).
        • + 100m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.500.000.000 đồng.

        Tổng trị giá: 5.900.000.000 đồng (Năm tỷ chín trăm triệu đồng). So với kỷ phần ông Đ1 được hưởng thừa 3.864.379.273 đồng (Ba tỷ tám trăm sáu mươi tư triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

      4. Giao cho bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có quyền sử dụng:
        • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng).
        • + 96,2m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.367.000.000 đồng (Ba tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng).

        Tổng trị giá: 5.767.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm sáu mươi bảy triệu đồng). So với kỷ phần các con bà L1 được hưởng thừa 3.731.379.273 đồng (Ba tỷ bảy trăm ba mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

      5. Giao cho vợ chồng ông Tô Thanh T, bà Hoàng Thị D có quyền sử dụng:
        • + 60m² đất ở tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 40.000.000 đồng/m² = 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng)..
        • + 90m² đất vườn liền kề tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 8 tại thôn S, xã N, huyện Đ, Hà Nội trị giá: 35.000.000 đồng/m² = 3.150.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm năm mươi triệu đồng).

        Tổng trị giá: 5.550.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng). So với kỷ phần ông T được hưởng thừa 3.514.379.273 đồng (Ba tỷ năm trăm mười bốn triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

      6. Giao cho bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 có quyền sử dụng chung: 137m² đất phía Tây tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá: 27.000.000 đồng/m² = 3.699.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm chín mươi chín triệu đồng). So với kỷ phần bà M, bà T1 được hưởng thiếu 372.241.454 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).
      7. Giao cho bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 có quyền sử dụng chung: 137m² đất phía Đông tại thửa đất 50, tờ bản đồ số 1 tại thôn S, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, trị giá: 27.000.000 đồng/m² = 3.699.000.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm chín mươi chín triệu đồng). So với kỷ phần bà L, bà H2 được hưởng thiếu 372.241.454 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).
      8. Tài sản trên phần đất của ai người đó có quyền sở hữu.
    5. Ranh giới đất: Có hồ sơ kỹ thuật kèm theo Bản án.
    6. Về nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản được chia:

      Vợ chồng ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho:

      • + Cụ Nguyễn Thị S số tiền 2.053.085.865 đồng (Hai tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng).
      • + Bà Tô Thị M và bà Tô Thị T1 tổng số tiền 372.241.454 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).
      • + Bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 tổng số tiền 372.241.454 đồng (Ba trăm bảy mươi hai triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng).

      Ông Tô Tiến Đ1 có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.864.379.273 đồng (Ba tỷ tám trăm sáu mươi tư triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

      Bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.731.379.273 đồng (Ba tỷ bảy trăm ba mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

      Vợ chồng ông Tô Thanh T, bà Hoàng Thị D có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Nguyễn Thị S số tiền 3.514.379.273 đồng (Ba tỷ năm trăm mười bốn triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).

    7. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất và để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
    8. Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.
  3. Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác cho đến khi thi hành án xong.
  4. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Cụ Nguyễn Thị S, bà Tô Thị M, bà Tô Thị T1, ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q (Q) là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí.
      • - Ông Tô Tiến Đ1 phải chịu 72.652.400 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      • - Bà Nguyễn Thị Mai L1 và các con là anh Tô Hoàng A, chị Tô Hải Y phải chịu 72.652.400 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      • - Ông Tô Thanh T và bà Hoàng Thị D phải chịu 72.652.400 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      • - Bà Tô Thị L và bà Tô Thị Thu H2 phải chịu 72.652.400 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm:

      Ông Tô Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q (Q1) được nhận lại mỗi người 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng lần lượt số 0047045 và 0047046 ngày 06/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

      Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế; chia tài sản chung.

  • Số bản án: 140/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế; chia tài sản chung.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung giữa nguyên đơn Nguyễn Thị S và bị đơn Tô Văn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger