Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 140/2024/HS – ST

Ngày: 29 - 10 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

-

Thành phần Hội đồng xét xử:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải

Các Hội thẩm nhân dân: ông Ngô Quốc Vũ và bà Đỗ Thị Liên;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Trần Hoàng D (tên gọi khác: Không), sinh năm 2001, nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nơi tạm trú: A5, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Tạm giữ: Từ ngày: 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
  2. Bị hại: Công ty TNHH S; địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; người đại diện theo pháp luật: Ông Kim Sung J – tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị V, sinh năm 1997– Nhân viên pháp chế Công ty TNHH S; có mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    • - Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
    • - Anh Phạm Văn T, sinh năm 1983 – Công ty TNHH S; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hoàng D là công nhân xưởng PKG của Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S1), thuộc địa phận tổ dân phố V, phường B, thị xã D. Từ ngày 31/01/2024, D được Công ty S1 giao nhiệm vụ, hàng ngày thu gom các con chip bị lỗi trong quá trình sản xuất chip đèn Led. Hàng tuần, vào các ngày thứ 2 và thứ 5 Dương có nhiệm vụ thu gom các sợi vàng phế liệu (là các sợi vàng sử dụng làm con chíp điện tử, loại vàng Gold AU 99%) trong quá trình công nhân sản xuất chip đèn L thừa ra, được thu gom đựng vào hộp nhựa đặt trên mặt bàn của công nhân, sau đó D mang vào phòng hóa chất để phân loại và cân khối lượng thu gom vàng thừa đựng vào túi nilon rồi cùng anh Phạm Văn T là tổ trưởng và được Công ty giao quản lý số vàng này ký xác nhận trên bề mặt túi nilon, sau đó D cất vào trong tủ sắt đặt ở phòng chất lượng rồi báo cáo số liệu lên hệ thống của Công ty. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/4/2024 đến ngày 14/6/2024, Trần Hoàng D đã 21 lần lấy trộm các sợi vàng phế liệu của Công ty S1 đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:

  • - Lần thứ nhất: Ngày 18/4/2024, khoảng 17 giờ trước khi hết giờ làm việc tại công ty, Trần Hoàng D đến vị trí thùng đựng vàng phế liệu, quan sát xung quanh không có người, Dương vơ số vàng phế liệu trong thùng cầm trong tay mang sang phòng cân hóa chất trong xưởng thấy không có ai, Dương vo tròn số vàng phế liệu lại và giấu vào tất của mình đang đi. Sau đó, D đi qua chốt bảo vệ kiểm tra ở cổng Công ty đi ra ngoài cổng, bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết chở đến chợ Đ thì xuống xe và một mình đi bộ đến cửa hàng V1, địa chỉ tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991, cư trú tại tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D làm chủ, khi gặp anh H1, D hỏi “Anh có mua cái loại vàng này không?”, anh H1 nói “Phải khò lên xem có phải vàng không đã”. Anh H1 cầm vàng mang vào khò cho tan chảy ra để xác định vàng bao nhiêu phần trăm. Khi xác định đúng là vàng thật thì anh H1 nói “Vàng này ở đâu”, D nói dối là “Em làm ở Công ty rác vừa thu mua lại của mấy bà thu gom rác”. Anh H1 cho vàng lên cân được 0,9687 chỉ, tính giá vàng 9999 mua vào ngày hôm đó là 7.450.000 đồng/01 chỉ được 7.217.000 đồng. Anh H1 nói với D là anh mua số vàng trên với giá 7.217.000 đồng thì D đồng ý bán và cung cấp cho anh H1 số tài khoản Ngân hàng V2 101870457779, mang tên Trần Hoàng D để anh H1 chuyển tiền trả D. Anh H1 sử dụng tài khoản Ngân hàng M, mang tên Nguyễn Văn H1 chuyển vào tài khoản của D số tiền 7.217.000 đồng. Sau khi nhận được tiền anh H1 trả, D đi về phòng trọ của mình và tiêu xài cá nhân hết.

Cũng với phương thức thủ đoạn như trên, Trần Hoàng D tiếp tục thực hiện 20 lần trộm cắp nữa, cụ thể:

  • - Lần thứ 2: Ngày 27/4/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,676 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.400.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 5.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 3: Ngày 30/4/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,550 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.310.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 4.020.000 đồng.
  • - Lần thứ 4: Ngày 11/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 1,0781 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.420.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 8.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 5: Ngày 12/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 1,318 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.420.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 9.780.000 đồng.
  • - Lần thứ 6: Ngày 14/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,582 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.320.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 4.260.000 đồng.
  • - Lần thứ 7: Ngày 18/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,399 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.530.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 3.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 8: Ngày 22/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,399 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho Nguyễn Văn H1 với giá 7.530.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 3.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 9: Ngày 24/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,405 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.410.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 3.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 10: Ngày 25/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,135 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.440.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 11: Ngày 27/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,539 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.420.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 4.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 12: Ngày 28/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,337 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng V1 bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.420.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 2.500.000 đồng.
  • - Lần thứ 13: Ngày 31/5/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 1,348 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.420.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 10.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 14: Ngày 03/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,56 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.280.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 4.076.000 đồng.
  • - Lần thứ 15: Ngày 04/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,41 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.320.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 3.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 16: Ngày 06/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,205 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.320.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 1.500.000 đồng.
  • - Lần thứ 17: Ngày 07/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,0792 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang đến cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.320.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 580.000 đồng.
  • - Lần thứ 18: Ngày 11/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,691 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 mang cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.235.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 5.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 19: Ngày 12/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,368 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.260.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 2.671.000 đồng.
  • - Lần thứ 20: Ngày 13/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,322 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.255.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 2.336.000 đồng.
  • - Lần thứ 21: Ngày 14/6/2024, Trần Hoàng D lấy trộm 0,312 chỉ vàng phế liệu của Công ty S1 cửa hàng vàng bạc Mạnh H2, bán cho anh Nguyễn Văn H1 với giá 7.255.000 đồng/01 chỉ, được số tiền 2.263.000 đồng.

Tất cả các lần D bán vàng cho anh H1 nêu trên, anh H1 đều trả tiền cho D bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng V3 số 0009977903830, tài khoản Ngân hàng M1 số 0977903830 mang tên Nguyễn Văn H1 vào tài khoản Ngân hàng V2 số [...], mang tên Trần Hoàng D, D đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 18/6/2024, đại diện Công ty TNHH S đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc trên. Cùng ngày 18/6/2024, Trần Hoàng D cũng đến Công an phường B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân

Vật chứng, tài liệu bị thu giữ, tạm giữ gồm: Trần Hoàng D giao nộp: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, số IMEI: 351726117936166, số IMEI2: 351726117936174, bên trong lắp 01 (một) sim thuê bao: 0888733884, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 47/KL – HĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam kết luận: 0,550 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 01/5/2024, trị giá 3.987.500 đồng; 0,582 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 14/5/2024 trị giá 4.236.900 đồng; 0,399 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 18/5/2024, trị giá 2.984.500 đồng; 0,399 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 22/5/2024, trị giá 2.980.500 đồng; 0,405 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 24/5/2024, trị giá 2.992.900 đồng; 0,135 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 25/5/2024, trị giá: 999.000 đồng; 0,337 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 28/5/2024, trị giá 2.490.400 đồng; 1,348 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 31/5/2024, trị giá 9.948.200 đồng; 0,56 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 03/6/2024, trị giá 4.060.000 đồng; 0,41 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 04/6/2024, trị giá 2.984.800 đồng; 0,205 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 06/6/2024, trị giá 1.492.400 đồng; 0,691 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 11/6/2024, trị giá 4.906.100 đồng; 0,368 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 12/6/2024, trị giá 2.660.600 đồng; 0,322 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 13/6/2024, trị giá 2.318.400 đồng; 0,312 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 14/6/2024, trị giá 2.246.400 đồng. Tổng cộng là: 51.288.600 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 49/KL – HĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam kết luận: 0,9687 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 18/4/2024, trị giá 7.149.000 đồng; 0,676 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 27/4/2024, trị giá 4.941.500 đồng; 1,0781 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 11/5/2024, trị giá 7.924.000 đồng; 1,318 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 12/5/2024, trị giá 9.713.600 đồng; 0,539 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 27/5/2024, trị giá 3.977.800 đồng; 0,0792 chỉ vàng loại vàng 99% tại thời điểm ngày 07/6/2024, trị giá 578.100 đồng; Tổng cộng là: 34.284.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số: 1259/KL-KTHS ngày 28/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N, kết luận: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu nhật ký cuộc gọi, nội dung tin nhắn văn bản SMS, Z, Facebook trong thời gian từ ngày 01/4/2024 đến ngày 14/6/2024 trong mẫu gửi giám định (ký hiệu: A) gồm: 483 nhật ký cuộc gọi điện thoại, 132 tin nhắn văn bản SMS, 523 tin nhắn Zalo. Nội dung khôi phục dữ liệu nhật ký cuộc gọi, nội dung tin nhắn văn bản SMS, Z, Facebook trong điện thoại của Trần Hoàng D không liên quan đến hành vi phạm tội của D. Không phát hiện D liên lạc với Nguyễn Văn H1 để bán vàng.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH S yêu cầu Trần Hoàng D phải bồi thường thiệt hại tài sản mà D đã chiếm đoạt của Công ty là 86.203.000 đồng. Đến nay, D chưa bồi thường gì cho Công ty.

Cáo trạng số 136/CT – VKS – DT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Hoàng D mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Trần Hoàng D chỉ đề nghị HĐXX xin được giảm mức án thấp nhất và không có ý kiến tranh luận gì. Đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

    Trần Hoàng D là công nhân xưởng PKG của Công ty TNHH S, thuộc địa phận tổ dân phố V, phường B, thị xã D, trong khoảng thời gian làm việc từ ngày 18/4/2024 đến ngày 14/6/2024, D đã lén lút lấy trộm vàng phế liệu trong thùng đựng vàng phế liệu tại xưởng PKG của công ty B lần (trong đó có 18 lần trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng, 03 lần trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng) được tổng số 11,682 chỉ vàng, loại vàng 99%, trị giá 85.572.600 đồng, đem bán cho anh Nguyễn Văn H1 ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D được 86.203.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

    Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Trần Hoàng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 136/CT – VKS – DT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

  3. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (TNHS):

    Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

    Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an phường B đầu thú. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  4. Về hình phạt:

    Về hình phạt chính: Từ những nhận định trên nhận thấy mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt, song hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, đến nay bị cáo vẫn chưa khắc phục hậu quả đối với bị hại. Vì vậy, HĐXX xét cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn.

    Về hình phạt bổ sung: Xét hiện tại bị cáo là người không có tài sản và thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bị cáo Trần Hoàng D phải bồi thường thiệt hại tài sản mà D đã chiếm đoạt của Công ty với số tiền là 86.203.000 đồng và được bị cáo đồng ý. Xét sự thỏa thuận về bồi thường giữa bị cáo và bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX cần ghi nhận.
  6. Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) điện thoại di động di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, bên trong lắp 01 (một) sim thu giữ của Trần Hoàng D: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Hoàng D đã sử dụng để liên lạc bán vàng cho anh Nguyễn Văn H1 và nhận chuyển khoản tiền bán vàng của anh H1, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  7. Về các tình tiết khác:

    Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn H1 - Chủ cửa hàng mua bán trang sức mỹ ký, bạc, phụ kiện điện thoại Mạnh H2, là người đã 21 lần mua vàng phế liệu của Trần Hoàng D từ ngày 18/4/2024 đến ngày 14/6/2024. Quá trình điều tra xác định, anh H2 không hứa hẹn từ trước, không biết rõ nguồn gốc số vàng trên là do D phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ khởi tố anh H2 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự và không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, anh H2 được Phòng Tài chính – Kế hoạch UBND thị xã D cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh ngày 05/8/2019, ngành nghề kinh doanh mua bán trang sức mỹ ký, bạc, phụ kiện điện thoại. Việc anh H2 tự ý 21 lần mua vàng loại 99% của Trần Hoàng D là hành vi vi phạm hành chính “Kinh doanh không đúng phạm vi, đối tượng, quy mô, thời hạn, địa bàn, đặc điểm hoặc mặt hàng ghi trong giấy phép kinh doanh được cấp”, quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ. Do đó, ngày 05/9/2024, Công an thị xã D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng đối với anh Nguyễn Văn H1 là đúng quy định của pháp luật.

    Đối với những người xe ôm chở Trần Hoàng D đem vàng đi bán, do bị cáo Trần Hoàng D không xác định được là ai ở đâu nên cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh xử lý là có cơ sở.

    Đối với anh Phạm Văn T - Tổ trưởng tổ thu gom phế liệu của Công ty TNHH S, là người được công ty giao quản lý số vàng phế liệu đã thu gom được. Tuy nhiên, khi D lấy trộm vàng phế liệu trong tủ sắt đặt ở phòng chất lượng của công ty thì anh T không biết và cũng không được hưởng lợi gì từ tài sản do D chiếm đoạt. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với anh T với vai trò đồng phạm với bị cáo trong vụ án này là có cơ sở.

  8. Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

TỪ NHẬN ĐỊNH TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo người đại diện của bị hại: Buộc bị cáo Trần Hoàng D phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là Công ty TNHH S, số tiền 86.203.000 đồng.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
    • + Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hoàng D phải nộp số tiền 200.000 đồng.
    • + Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hoàng D phải nộp số tiền 4.310.000 đồng.

Báo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn lại phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mạnh Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HS – ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 140/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN HOÀNG D PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger