TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 140/2024/HS-ST. Ngày: 04-12-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam.
+ Ông Phạm Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Nhật T; tên gọi khác: Bé khỉ, Giới tính: Nam; sinh ngày 24-12-1998, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ; mẹ: Trương Thị H, Sinh năm: 1978; Anh, chị, em ruột: bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ; con: chưa có.
Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 45/2017/HS-ST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Trương Nhật T 07 năm tù tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đến ngày 16-01-2022 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: 01 tiền sự: Tại quyết định số 0114413/QĐ-XPVPHC, ngày 14/10/2016 của Công an thị trấn P Cửa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 22-10-2016, đến nay chưa nộp phạt.
- Bị hại: Trương Mỹ T1, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
Bị cáo bị bắt ngày 25.10.2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Nhật T là người nghiện ma túy, T ở chung nhà với Trương Mỹ T1 (chị họ của T). Khoảng 19 giờ ngày 31/7/2024, trong lúc T và T1 đang ở nhà, do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo V20 SE màu xanh dương của T1 đang sạc để trên đầu tủ lạnh, T lén lút trộm cắp chiếc điện thoại di động này của T1 rồi bỏ đi ra ngoài. T gặp Nguyễn Thị Mỹ Q đang ngồi giữ con tại trước nhà, T hỏi Q có mua điện thoại không sau đó T lấy 01 chiếc điện thoại vừa trộm cắp được của T2 ra đưa cho Q coi. Q thấy điện thoại không khóa màn hình nên có ý định mua để cho con của Q xem phim. Q hỏi T bán giá bao nhiêu tiền thì T nói 900.000 đồng, Q nói không đủ tiền, chỉ còn 400.000 đồng thì T đồng ý bán điện thoại cho Q. T sử dụng số tiền bán điện thoại tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Sau khi T1 kiểm tra mất điện thoại và nghi ngờ T đã trộm cắp nên đến Công an thị trấn P trình báo sự việc. Công an thị trấn P Cửa mời T làm việc, T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của T1 và thu hồi 01 điện thoại di động hiệu Vivo từ Q để định giá.
Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 108/KL/HĐĐG ngày 25.9.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động Vivo màu xanh, có kiểu máy V2022, Ram 8GB, bộ nhớ điện thoại 128GB có giá trị định giá: 5.990.000 đồng/chiếc x 60% = 3.594.000 đồng.
Về tang vật chứng: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho Trương Mỹ T1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo V20 SE màu xanh dương.
Về trách nhiệm dân sự: Trương Mỹ T1 và Nguyễn Thị Mỹ Q không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Tại Bản Cáo trạng số 163/CT-VKSTP-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Trương Nhật T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng:
- + Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Nhật T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Về dân sự: Không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về hình sự đề nghị xử lý bị cáo Trương Nhật T theo đúng quy định của pháp luật.
- - Bị cáo Trương Nhật T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Nhật T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo V20 SE màu xanh dương của Trương Mỹ T1. T sử dụng số tiền bán điện thoại tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Sau khi T1 kiểm tra mất điện thoại và nghi ngờ T đã trộm cắp nên đến Công an thị trấn P trình báo sự việc. Công an thị trấn P Cửa mời T làm việc, T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của T1.
Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 108/KL/HĐĐG ngày 25.9.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động Vivo màu xanh, có kiểu máy V2022, Ram 8GB, bộ nhớ điện thoại 128GB có giá trị định giá: 5.990.000 đồng/chiếc x 60% = 3.594.000 đồng.
Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trương Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Bị cáo Trương Nhật T là người đã trưởng thành nên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút trộm cắp tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, có tính chất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục và cải tạo bị cáo để trở thành công dân tốt.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần này tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân không tốt và bị cáo có tiền án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Về tang, vật chứng trong vụ án: Những vật chứng đã xử lý trong giai đoạn điều tra thì Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Bị cáo Trương Nhật T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Nhật T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trương Nhật T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-10-2024.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Nhật T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04-12-2024). Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kiêm Uyên |
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Trương Nhật T phạm tội:“Trộm cắp tài sản”; Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Trương Nhật T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-10-2024. Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo Trương Nhật T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
