|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HS-ST Ngày 03 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ma Quốc Thể
Ông Hoàng Văn Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 03/12/2024, Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Thu T, sinh ngày 12/01/1991, tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Văn T1, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1967; chồng Nguyễn Trung H, sinh năm 1991; con có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2024
* Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Lê Kỳ A, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV T2; Địa chỉ: Số A tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Kỳ C1, sinh năm 1968; chức vụ: Chủ tịch Công ty. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Chị Vũ Thị C2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 (gọi tắt là Công ty T2) có Mã số doanh nghiệp 5000590277, được đăng ký lần đầu ngày 24/3/2010, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 04/6/2021, trụ sở đặt tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang do ông Lê Kỳ C1 làm Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật.
Ngày 02/10/2018, Công ty T2 ký Hợp đồng lao động số 01/2018/HĐLĐ với Tống Thu T làm kế toán viên kiêm thủ quỹ, thủ kho, được hưởng lương 2.953.200đ/tháng và được nâng lương theo định kỳ.
Ngày 25/9/2021, Công ty T2 ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 01/2021/HĐHTKD với hộ kinh doanh do anh Lê Kỳ A làm chủ hộ kinh doanh (theo giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 15F800100929 ngày 20/9/2021 do Phòng tài chính kế hoạch huyện S cấp). Theo đó, công ty T2 bàn giao toàn bộ tài sản, vật tư, hàng hóa hiện có cho hộ kinh doanh Lê Kỳ A; hộ kinh doanh Lê Kỳ A đầu tư hoàn chỉnh các hạng mục còn thiếu, sửa chữa lại nhà đảm bảo đầy đủ cho hoạt động kinh doanh phát triển và chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ quá trình kinh doanh Nhà hàng- Karaoke Phương A1 đặt tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S. Mọi hoạt động kinh doanh được hạch toán theo hệ thống sổ sách của hộ kinh doanh Lê Kỳ A và lợi nhuận sau thuế được chia theo tỷ lệ do hai bên thống nhất cho từng năm.
Ngày 06/10/2021, anh Lê Kỳ A lập văn bản ủy quyền cho Tống Thu T xử lý toàn bộ các công việc của hộ kinh doanh Lê Kỳ A, hiệu lực từ ngày ký ủy quyền cho đến khi bên nhận ủy quyền (T) hoàn thành nhiệm vụ. Công việc của T là nhân viên trực tiếp bán hàng và thu tiền tại Nhà hàng P. Sau khi thu tiền của khách bằng hình thức thu tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của T, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách báo khách hàng nợ và để tránh bị phát hiện T đã cân đối lấy tiền của khách hàng sau trả cho khách hàng trước.
Theo “Bảng công nợ phải thu khách hàng từ 01/01/2023 đến 20/8/2023 T đã thu tiền nhưng chưa nộp vào quỹ nhà hàng” được lập ngày 20/8/2023 giữa Tống Thu T với chị Vũ Thị C2- kế toán của Nhà hàng Phương A1 thì T đã thu tiền của 68 khách hàng với 76 lần thanh toán với tổng số tiền là 403.091.200đ (Bốn trăm linh ba triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm đồng), trong đó nhiều lần T thu và chiếm đoạt số tiền trên 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Kỳ A và ông Lê Kỳ C1 yêu cầu Tống Thu T trả lại số tiền đã chiếm đoạt của Nhà hàng Phương A1 là 403.091.200đ. Tại phiên tòa T đã trả được 10.000.000đ.
Ngoài ra, trong quá trình làm việc tại Nhà hàng P, T có vay tiền của ông Lê Kỳ C1 nhiều lần, đã trả một phần, hiện còn nợ 250.000.000đ; khoản vay 21.338.950đ theo ông C1 là khoản tiền ông đưa cho T để mua đồ đạc, vật phẩm khác nhưng không mua hết; khoản vay của bà Ma Thị Phương H1 số tiền 89.600.000đ. Xác định đây là các giao dịch dân sự, ông C1, bà H1 sẽ yêu cầu khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
2
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 140/CT-VKSSD, ngày 12/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Tống Thu T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175).
Tại phiên tòa:
Bị cáo T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định bị cáo có ký hợp đồng lao động với công ty T2 và hưởng lương do công ty T2 chi trả. Sau khi bị cáo được nhận ủy quyền của anh Lê Kỳ A xử lý toàn bộ các công việc của hộ kinh doanh Lê Kỳ A thì tiền lương của bị cáo do hộ kinh doanh Lê Kỳ A chi trả. Bị cáo thừa nhận từ năm 2021 do tình hình dịch bệnh dẫn đến tình trạng kinh doanh của Nhà hàng P gặp khó khăn, thu nhập của bị cáo cũng ảnh hưởng, không đủ chi tiêu nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền bị cáo đã thu của khách sử dụng dịch vụ tại Nhà hàng. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối không báo cho ông C1 biết về một số khoản thu và một số khoản công nợ đã thu của khách hàng để chiếm đoạt số tiền đó, sử dụng vào việc chi trả các khoản nợ và chi tiêu cá nhân. Bị cáo xác định số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của Nhà hàng Phương A1 do anh Lê Kỳ A là chủ hộ kinh doanh số tiền là 403.091.200đ theo bảng công nợ lập ngày 20/8/2023 giữa bị cáo với chị Vũ Thị C2- kế toán Nhà hàng P. Tại phiên tòa bị cáo đã trả cho anh Lê Kỳ A (ông C1 là người nhận thay) số tiền 10.000.000đ. Số tiền còn lại là 393.091.200đ bị cáo sẽ có trách nhiệm trả cho anh Lê Kỳ A- chủ hộ kinh doanh để nhập vào quỹ của Nhà hàng P.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại anh Lê Kỳ A yêu cầu bị cáo trả cho anh số tiền 403.091.200đ đã chiếm đoạt của Nhà hàng P để anh hạch toán, chia lợi nhuận với công ty T2. Anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Kỳ C1- Đại diện theo pháp luật của công ty T2 có mặt tại phiên tòa yêu cầu bị cáo trả số tiền 403.091.200đ cho hộ kinh doanh Lê Kỳ A, bị cáo đã trả 10.000.000đ (ông đã nhận thay cho anh Lê Kỳ A), bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp là 393.091.200đ. Còn đối với số tiền 250.000.000đ và 21.338.950đ là số tiền ông cho bị cáo vay hiện nay bị cáo chưa trả cho ông nên ông sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại biên bản làm việc vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 03/12/2024 bà Mai Thị Phương H2 trình bày: Số tiền 89.600.000đ là tiền T vay của bà nên bà sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác, bà đề nghị Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
Người làm chứng chị Vũ Thị C2 có mặt tại phiên tòa trình bày: Chị là kế toán kiêm thủ quỹ của Nhà hàng P. Chị xác nhận ngày 20/8/2023, chị và bị cáo T có lập “Bảng công nợ phải thu khách hàng từ 01/01/2023 đến 20/8/2023 T đã thu tiền nhưng chưa nộp vào quỹ nhà hàng” với tổng số tiền là 403.091.200đ, toàn bộ số tiền trên chị đã đối chiếu với khách hàng thể hiện khách hàng đã thanh toán hết cho bị cáo T nhưng bị cáo T chưa nộp vào quỹ nhà hàng.
3
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo Tống Thu T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;
Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Thu T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo chấp hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho hộ kinh doanh do anh Lê Kỳ A làm chủ hộ kinh doanh số tiền là 393.091.200đ.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo gửi lời xin lỗi tới ông C1 và anh Lê Kỳ A. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Các biên bản làm việc; lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự tín nhiệm của anh Lê Kỳ A- chủ hộ kinh doanh Lê Kỳ A trong việc ủy quyền giao quản lý, điều hành hoạt động, kinh doanh; trực tiếp bán hàng và thu tiền tại Nhà hàng P, Tống Thu T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền sau khi thu được từ khách hàng sử dụng dịch vụ tại Nhà hàng bằng thủ đoạn báo khách hàng nợ và cân đối lấy tiền của khách hàng sau trả cho khách hàng trước. Trong thời gian từ 06/10/2021 đến ngày 01/8/2023, Tống Thu T đã chiếm đoạt tổng số tiền 403.091.200đ (Bốn trăm linh ba triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm đồng) của nhà hàng P, trong đó có nhiều lần T chiếm đoạt số tiền trên 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của Tống Thu T đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000đ đến dưới 500.000.000đ (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự). Vì vậy Viện kiểm sát
4
nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[2] Về tính chất của hành vi: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội nên cần thiết phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong tổng số tiền chiếm đoạt 403.091.200đ có nhiều lần bị cáo chiếm đoạt số tiền trên 4.000.000đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong thời gian phạm tội bị cáo đang mang thai nên được áp dụng tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai”; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo có bố đẻ là ông Tống Văn T1 có thời gian phục vụ trong quân đội, có ông nội là ông Tống Đức V được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, có bà nội là bà Bùi Thị L được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có ông ngoại là ông Nguyễn Văn B được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có bà ngoại là bà Trần Thị C3 tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000đ, tuy nhiên số tiền bị cáo bồi thường cho bị hại chưa tương xứng với thiệt hại xảy ra nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà sẽ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tống Thu T có trách nhiệm bồi thường cho hộ kinh doanh Lê Kỳ A do anh Lê Kỳ A làm đại diện số tiền 393.091.200đ.
[5] Các vấn đề khác: Đối với khoản tiền theo ông Lê Kỳ C1 khai Tống Thu T vay của ông tổng là 271.338.950đ; khoản vay của bà Ma Thị Phương H1 số tiền 89.600.000đ. Xác định đây là các giao dịch dân sự, ông C1, bà H1 sẽ yêu cầu khởi kiện bằng vụ án
5
dân sự khác nên Hội đồng xét xử không xem xét và không xác định bà Ma Thị Phương H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tống Thu T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
1. Về hình phạt: Căn cứ: Khoản 3 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tống Thu T 09 (chín) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015
Buộc bị cáo Tống Thu T có trách nhiệm bồi thường cho hộ kinh doanh Lê Kỳ A do anh Lê Kỳ A làm đại diện số tiền 393.091.200đ (Ba trăm chín mươi ba triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn xin thi hành án của người bị hại nếu bị cáo Tống Thu T không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
6
Buộc bị cáo Tống Thu T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 19.654.560đ làm tròn là 19.654.500 (Mười chín triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (03/12/2024); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Hường |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
||
|
Tăng Thị Hường |
8
Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 140/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
