|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/05/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Hoàng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 29/05/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 324/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/03/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 138/2024/TB-LPT ngày 29/4/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1989 (Có mặt)
HKTT: thôn Đồng, xã Trung Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: thôn Đồng Ích, xã Hương Mai, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn G, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng của anh G tại Việt Nam: thôn Đ, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Anh G hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn G có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 03/01/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là thị xã V, tỉnh Bắc Giang) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa hai anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến năm 2019, anh Hoàng Văn G đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và từ đó đến nay chưa về nước lần nào. Hiện tại, giữa hai anh chị rất ít khi liên lạc với nhau, anh G cũng không cho chị biết địa chỉ của anh ở nước ngoài nên chị không cung cấp được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Hoàng Văn G được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Lan A, sinh ngày 16/10/2008 và cháu Hoàng Văn D1, sinh ngày 19/09/2011. Hiện nay các cháu đang ở với chị, đề nghị Tòa án giao cháu cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Hoàng Văn G hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh G đến nay không nhận được thông tin của anh G.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ của anh G là ông Hoàng Văn H, sinh năm 1957; địa chỉ: thôn Đ, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, ông có ý kiến trình bày như sau: ông là bố đẻ của anh Hoàng Văn G, anh G hiện đang lao động tại Hàn Quốc. Gia đình ông vẫn thường xuyên liên hệ với anh G qua mạng xã hội nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh G ở nước ngoài. Về việc chị D xin ly hôn anh thì anh có biết và thống nhất đồng ý ly hôn. Về việc chị D đề nghị được nuôi cả hai con chung thì anh G không bàn bạc với ông nên ông không có ý kiến gì cung cấp với Toà án.
* Tòa án đã làm việc với cháu Hoàng Thị Lan A và cháu Hoàng Văn D1, các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị D.
* Tại phiên tòa sơ thẩm anh G vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn G.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hoàng Thị Lan A và cháu Hoàng Văn D1 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Hoàng Văn G. Bị đơn anh Hoàng Văn G có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 10545/QLXNC-P3 ngày 20/5/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Hoàng Văn G đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 05/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Hoàng Văn G được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Hoàng Văn H là bố đẻ của anh G hiện anh G đang ở Hàn Quốc nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án. Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh G theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của bị đơn không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Văn G kết hôn với nhau ngày 03/01/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là thị xã V, tỉnh Bắc Giang), việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh G. HĐXX thấy: Đến nay chị D và anh G đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh G hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị D xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, xử cho chị D được ly hôn với anh G.
[4]. Về con chung: Chị D và anh G có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Lan A, sinh ngày 16/10/2008 và cháu Hoàng Văn D1, sinh ngày 19/09/2011, hiện cả hai cháu đang ở cùng chị D và đều có nguyện vọng được ở cùng chị D. Anh G hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung là cháu Lan A và cháu D1. Về cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị D không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn G.
- Về con chung: Giao hai cháu Hoàng Thị Lan A, sinh ngày 16/10/2008 và cháu Hoàng Văn D1, sinh ngày 19/09/2011 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000838 ngày 16/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Hoàng Văn G hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 140/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dung ly hôn Giáp
