Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 140/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

“Về ly hôn và tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng

Ông Trần Mai Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga– Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Không.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 429/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Nhự D, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; địa chỉ tại Hàn Quốc: 120-23, P-ro 37-gil, B – gu, D, Hàn Quốc. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn anh Lê Nhự D trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị D1 chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An ngày 11/7/2013. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng sinh sống hạnh phúc. Năm 2018, sau khi sinh con thứ 2 được một thời gian thì anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi thăm tuy nhiên do dịch bệnh, kinh tế khó khăn nên anh D không gửi tiền về cho chị D1, từ đó vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, bất đồng quan điểm, không thể hoà hợp. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Lê Nhự D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị D1.

Về con chung: Anh Lê Nhự D và chị Nguyễn Thị D1 có 02 con chung là cháu Lê Nhự Quang H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Lê Nhữ Quang H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2018, hiện nay chị D1 đang trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D2 và chị D1 không ai có con riêng, con nuôi. Khi ly hôn, anh D2 đồng ý để chị D1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến lúc đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D2 đồng ý đóng góp nuôi con cùng chị D1 nuôi hai con, mỗi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Nhự D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay anh D đang sống tại Hàn Quốc, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh. Đồng thời, anh uỷ quyền cho ông Nguyễn Thức G (sinh ngày 13/4/1974, địa chỉ: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) thay mặt anh nhận các văn bản tố tụng do Toà án gửi cho anh và nộp các văn bản, tài liệu cho Toà án do anh cung cấp.

Bị đơn chị Nguyễn Thị D1 trình bày:

Về tình cảm vợ chồng: Chị và anh Lê Nhự D chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An ngày 11/7/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khi anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc vợ chồng vẫn bình thường với nhau. Đến năm 2022 thì anh D cắt đứt liên lạc với chị D1. Nay anh D làm đơn xin ly hôn thì chị đồng ý.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị D1 và anh Lê Nhự D có 02 con chung là Lê Nhự Quang H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và Lê Nhữ Quang H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2018, hiện nay chị D1 đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và đồng ý với ý kiến của anh D về đóng góp cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn anh Lê Nhự D và chị Nguyễn Thị D1. Anh Lê Nhự D, địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh đang sinh sống và làm việc ở Hàn Quốc (có chứng thực của Đ tại Hàn Quốc) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Lê Nhự D và chị Nguyễn Thị D1 đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Nhự D và Nguyễn Thị D1 chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An ngày 11/7/2013. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng sinh sống hạnh phúc. Năm 2018, sau khi sinh con thứ 2 được một thời gian thì anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, hỏi thăm tuy nhiên do dịch bệnh, kinh tế khó khăn nên anh D không gửi tiền về cho chị D1. Vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, bất đồng quan điểm, không thể hoà hợp và cắt đứt mọi liên lạc từ năm 2022 đến nay. Nay, anh D và chị D1 không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, cho anh Lê Nhự D được ly hôn chị Nguyễn Thị D1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Nhự Quang H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Lê Nhữ Quang H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2018, hiện nay chị D1 đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, anh D và chị D1 đều thống nhất đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho chị D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dũng đóng góp cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) kể từ tháng 4/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Xét, nguyện vọng của anh D và chị D1 là hoàn toàn chính đáng và tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: anh Lê Nhự D và chị Nguyễn Thị D1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh D2 và chị D1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

[7] Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Nhự D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 147 và khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Nhự D được ly hôn chị Nguyễn Thị D1.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Lê Nhự Quang H, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Lê Nhữ Quang H1, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Nhự D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con cùng chị Nguyễn Thị D1, mỗi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) kể từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

    Anh Lê Nhự D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

    Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Nhự D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Lê Nhự D và chị Nguyễn Thị D1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
  6. Về án phí: Anh Lê Nhự D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh Lê Nhự D đã nộp (do ông Nguyễn Thức G nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001393 ngày 05/12/2023.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Nghi Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký




Nguyễn Anh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 140/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger