|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1)- Bà Nguyễn Trần Mỹ Tân.
2)- Bà Mai Thị Bỉ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1)- Lâm Đặng Hoàng Â; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/10/1983; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 đường V, phường A, thành phố T, tỉnh Long An. Chổ ở hiện nay: 280B, N, phường C, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn M và bà Đặng Thị Ngọc T; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ T1 (đã ly hôn).
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 25/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 73/2010/HSST); qua xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An từ ngày 25/8/2010 đến thời điểm hiện nay thì ông Lâm Đặng Hoàng  chưa có thụ lý hồ sơ thi hành án nào tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An.
Ngày 21/4/2011, Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 3150/QĐ). Bị cáo đã chấp hành xong.
Bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 01/3/2024 cho đến ngày 09/3/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2)- Đỗ Văn M1; Tên gọi khác: Q; Sinh năm: 2002; Nơi sinh: Tỉnh Long An; Nơi thường trú: Không xác định. Nơi ở hiện nay: Sống lang thang: Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn K, con bà: Vô danh; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Ngày 25/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt tù có thời hạn 09 tháng về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2022, đã thi hành xong án phí, nhưng chưa hết thời hạn xóa án tích.
Tiền sự: Ngày 26/12/2011, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo chưa chấp hành.
Nhân thân: Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt tù có thời hạn 02 năm về tội Trộm cắp tài sản. Không xem là án tích do bị cáo là người chưa thành niên.
Bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 01/3/2024 cho đến ngày 09/3/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Bà Hồ Thị T2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số nhà I, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Ngọc T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số B, N, phường C, thành phố T, tỉnh Long An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 là người nghiện ma túy, trong lúc sử dụng ma túy chung tại thị trấn B, huyện B mới quen biết nhau được khoảng 01 tuần, do không có tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng, nên  rủ M1 đi tìm tài sản của người khác để trộm cắp. Trưa ngày 29/02/2024,  điều khiển xe mô tô loại Wave ZX màu trắng biển số 52L5-9833 (xe của mẹ ruột  là bà Đặng Thị Ngọc T mua chưa sang tên) chở M1 từ thị trấn B rẽ vào tỉnh lộ 832 và đi về hướng huyện T. Khi đến quán nước giải khát tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An của chị Hồ Thị T2, M1 phát hiện trong quán có dựng 01 chiếc xe mô tô loại Wave Alpha màu đỏ biển số 62K9-3177 và chị Hồ Thị T2 đang nằm võng ngủ. Thấy vậy, M1 kêu  dừng xe lại, M1 xuống xe, đi đến quán nước và lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 62K9-3177 của chị Hồ Thị T2 đẩy ra ngoài lộ, M1 ngồi trên xe vừa trộm được, còn  điều khiển xe mô tô biển số 52L5-9833 chạy và dùng chân phải đẩy xe mô tô vừa trộm được theo đường tỉnh lộ 832 xuống hướng xã T, huyện T rồi rẽ phải vào lộ Đ một đoạn thì M1 bức dây max của xe vừa trộm được và khởi động nổ máy xe. M1 điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm,  điều khiển xe mô tô 52L5-9833, cả 02 đi tiếp đến đường C rồi rẽ phải đi đến tỉnh lộ 832 tiếp tục rẽ trái đi về đến thị trấn B. Khi đến thị trấn B đến chỗ vắng người (khu vực bãi rác) M1 cạy cốp xe mô tô vừa trộm được thì phát hiện bên trong có tiền, vàng, cùng một số giấy tờ cá nhân. Cụ thể, gồm:
- - 6,5 chỉ vàng 24K, trong đó: 02 (hai) nhẫn vàng mỗi chiếc trọng lượng 01 chỉ; 03 (ba) nhẫn vàng mỗi chiếc trọng lượng 0,5 chỉ; 02 (hai) vòng đeo tay vàng gồm 01 chiếc trọng lượng 02 chỉ và 01 chiếc trọng lượng 01 chỉ;
- - Vàng 18K không rõ trọng lượng, trong đó: 02 (hai) đôi bông tai vàng; 02 (hai) sợi dây chuyền vàng; 04 (bốn) nhẫn vàng.
- - Tiền Việt Nam: Khoảng 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng).
- - Giấy tờ cá nhân gồm: 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 62K9-3177 mang tên Nguyễn Minh T3; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, 01 (một) Thẻ ATM ngân hàng A, 01 (một) Thẻ bảo hiểm y tế, 01 (một) Căn cước công dân, 01 (một) Chứng minh nhân dân, tất cả mang tên Hồ Thị T2 và 01 (một) Thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Hồ Minh T4.
Đỗ Văn M1 lấy tiền có trong cốp xe (xe vừa lấy trộm) 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đi mua ma túy về Ân và M1 cùng sử dụng. Sau đó, M1 điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm được chở  đi lên huyện Đ khu vực biên giới giáp Campuchia bán cho 01 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ được số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) (trên đường đi M1 đã tháo biển số xe quăng trên đường không nhớ vị trí). Sau đó,  và M1 đến quán cà phê cặp đường tránh gần nghĩa trang L, tại đây cả 02 chia nhau số vàng và tiền có trong cốp xe, tiền bán xe, vàng thì M1 lấy nhiều hơn, tiền thì chia đôi (mỗi người hơn 10 triệu đồng). Ân được chia số vàng gồm: 02 (hai) nhẫn trơn, 02 (hai) vòng đeo tay, 01 (một) chiếc bông tai,  để trong gói thuốc Jet bỏ trong túi quần đang mặc và số tiền hơn 10 triệu đồng được chia để trong bóp cầm tay kẹp ở ba ga giữa xe. Sáng ngày 01/3/2024, khi gặp lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe kiểm tra, biết việc trộm xe của mình bị phát hiện nên  điều khiển xe mô tô bỏ chạy, do lạc tay lái nên rơi xuống ao nước khu vực B thuộc thị trấn B thì bị bắt giữ. Khi bị lực lượng đưa người và xe lên trên thì  phát hiện gói thuốc Jet bên trong có để vàng và cái bóp đựng tiền đã rơi mất nhưng không xác định rơi ở vị trí nào. Sau khi  trình bày, Cơ quan điều tra có tổ chức truy tìm nhưng không thu được tang vật. Đến hơn 14 giờ cùng ngày thì Đỗ Văn M1 cũng bị bắt, bị thu giữ tiền và vàng trong người Mạnh.
Tại Kết luận hội đồng định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận về giá trị tài sản bị thiệt hại đối với tài sản bị mất trộm của chị Hồ Thị T2 vào ngày 29/02/2024 như sau:
- - 1,99 (một phẩy chín mươi chín) chỉ vàng 24Kra, thu hồi được gồm: 03 (ba) nhẫn trơn có giá trị là: 12.576.800 đồng;
- - 6,02 (sáu phẩy không hai) chỉ vàng 18Kra, thu hồi được gồm: 02 (hai) sợi dây chuyền, 02 (hai) chiếc nhẫn dạng cà rá, có đính hột màu xanh; 02 (hai) chiếc nhẫn kiểu; 01 (một) đôi bông tai và 01 (một) chiếc bông tai, có giá trị là 22.996.400 đồng;
- - 4,5 (bốn phẩy năm) chỉ vàng 24Kra, không thu hồi được gồm: 02 (hai) nhẫn trơn và 02 (hai) vòng đeo tay có giá trị là 28.440.000 đồng;
- - 01 (một) chiếc bông tai, vàng 18Kra trọng lượng 3,4 phân, không thu hồi được có giá trị là 1.298.800 đồng;
- - 01 (một) chiếc xe mô tô loại Wave Alpha màu đỏ BKS: 62K9-3177 (không thu hồi được), có giá trị là 5.000.000 đồng;
Tổng cộng giá trị tài sản là 70.312.000 đồng, số tiền mặt là 19.000.000 đồng. Tổng số tiền và tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 89.312.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSTTr ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ đã truy tố các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Đặng Hoàng  mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M1 mức án từ 04 đến 05 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Giá trị tài sản và tiền bị chiếm đoạt không thu hồi lại được, bị hại yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền 45.838.000 đồng. Bà Đặng Thị Ngọc T đã bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo Ân số tiền 41.780.000 đồng. Số tiền còn lại là 4.058.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tiếp, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: - Đề nghị tuyên tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) đôi giày bít gót màu đen, 01 quần kaki màu đen, 01 nón kết màu xám đen, 01 áo sơ mi màu xám long chuột, 01 quần dài kaki màu đen, 01 nón bảo hiểm màu trắng viền đen có chữ PLAGGIO. Đề nghị tuyên tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 52L5-9833 và 01 (một) giấy đăng ký mô tô biển số 52L5-9833, vì số máy xe không phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký xe.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Các bị cáo không có tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng xin được xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 đã khai nhận: Hai bị cáo không có nghề nghiệp, thường xuyên bỏ nhà đi chơi, nghiện ma tuý, nên khi không có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng,  rủ M1 đi trộm cắp tài sản đem đi bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Trưa ngày 29/02/2024, Lâm Đặng Hoàng  điều khiển xe mô tô loại Wave ZX màu trắng biển số 52L5-9833 chở M1 đi từ thị trấn B đến huyện T, khi đến quán bán nước giải khát của chị Hồ Thị T2 tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An thì M1 lén lút vào lấy trộm 01 chiếc xe mô tô loại Wave Alpha màu đỏ biển số 62K9-3177 của chị T2, trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Trong cốp xe mô tô có 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng); vàng nhẫn, dây chuyền, bông tai vàng 18-24 kara trị giá 65.312.000 đồng (sáu mươi lăm triệu ba trăm mười hai nghìn đồng) và 01 số giấy tờ cá nhân của chị T2. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị là 89.312.000 đồng (T5 mươi chín triệu, ba trăm mười hai nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định tội “Trộm cắp tài sản”:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Xét thấy, các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Hồ Thị T2, có tổng giá trị là 89.312.000 đồng. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã truy tố hai bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 là người có tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu lao động chính đáng để lo cho bản thân và gia đình, các bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ cho bản thân, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều đã bị xử lý về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không chịu cải sửa bản thân. Trong vụ án này các bị cáo không có bàn bạc, phân công nhau nên là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo thì mới đề cao tính nghiêm minh của pháp luật cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo có thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Lâm Đặng Hoàng  là người rủ rê đồng phạm thực hiện việc phạm tội. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động mẹ ruột là bà Đặng Thị Ngọc T bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo  và bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đỗ Văn M1 là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp và đem tài sản trộm cắp đi tiêu thụ; bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội, nên lần phạm tội này được xem là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Để lập lại trật tự kỷ cương của pháp luật, cần tuyên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải sửa bản thân trở thành công dân tốt.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Đặng Hoàng  mức án từ 3 năm 06 tháng đến 4 năm tù là nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Â. Mức án Kiểm sát viên đề nghị xử phạt đối với bị cáo Đỗ Văn M1 là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Đối với hành vi của bị cáo Đỗ Văn M1 lấy tiền có trong cốp xe (xe vừa lấy trộm) 1.000.000 đồng đi mua ma túy về M1 và Â cùng sử dụng hết, Cơ quan chức năng không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi một phần trả lại cho bị hại; số tài sản không thu hồi được bị hại yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền 45.838.000 đồng. Bà Đặng Thị Ngọc T đã bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo Lâm Đặng Hoàng  số tiền 41.780.000 đồng. Số tiền còn lại là 4.058.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường tiếp số tiền trên, nên không xem xét.
Đối với các loại giấy tờ cá nhân của bà Hồ Thị T2 bị mất, bà T2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Bà Đặng Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại cho bà số tiền đã bồi thường cho bị hại, nên không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu giữ các vật chứng gồm:
- 01 (một) đôi giày bít gót màu đen, 01 quần kaki màu đen, 01 nón kết màu xám đen, 01 áo sơ mi màu xám lông chuột, 01 quần dài kaki màu đen, 01 nón bảo hiểm màu trắng viền đen có chữ PLAGGIO. Đây là những quần áo, vật dụng cá nhân của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô 52L5-9833 được bà Đặng Thị Ngọc T, (mẹ của bị cáo Â) mua trước tết năm 2024 của người không rõ họ tên tại thành phố T, tỉnh Long An, khi mua chỉ thấy biển số ghi trên giấy đăng ký xe trùng khớp với biển số xe thì mua về sử dụng. Vào ngày 29/02/2024, Lâm Đặng Hoàng  sử dụng xe nêu trên chở Đỗ Văn M1 đi trộm cắp tài sản bà T không biết. Bà T xin nhận lại xe nêu trên để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đối chiếu số khung, số máy trên giấy chứng nhận đăng ký xe và số khung, số máy thực tế của xe mô tô biển số 52L5-9833 thì số máy không trùng khớp, số máy trên giấy chứng nhận đăng ký là FMHY-0069382 nhưng số máy trên phương tiện là VTRCF100E0900595. Từ lúc mua xe về sử dụng đến nay bà T không sửa chữa thay máy. Qua xác minh chủ sở hữu theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52L5-9833 do ông Trần Anh T6, địa chỉ: A, B, phường D, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, người này đã bỏ địa phương đi đâu không rõ. Tiến hành tra cứu thông tin trên dữ liệu quản lý xe tang vật thì xe mô tô biển số 52L5-9833 và số máy VTRCF100E0900595 không có thông tin trong các vụ án khác. Do đó xe mô tô biển số 52L5-9833 có giấy tờ không hợp lệ, không được phép lưu hành, các bị cáo sử dụng làm phương tiện đi phạm tội, nên cần tuyên tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý.
[5] Về án phí: Các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Đặng Hoàng  03 (ba) năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 01/3/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lâm Đặng Hoàng  45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo việc thi hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M1 04 (bốn) năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 01/3/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Văn M1 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo việc thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:
- - Tuyên tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) đôi giày bít gót màu đen, 01 quần kaki màu đen, 01 nón kết màu xám đen, 01 áo sơ mi màu xám lông chuột, 01 quần dài kaki màu đen, 01 nón bảo hiểm màu trắng viền đen có chữ PLAGGIO.
- - Tuyên tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 52L5-9833 và 01 (một) giấy đăng ký mô tô biển số 52L5-9833.
Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ.
- Về án phí: Các bị cáo Lâm Đặng Hoàng  và Đỗ Văn M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Mai Thị Bỉ - Nguyễn Trần Mỹ Tân |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Đặng Hoàng Ẩ, Đỗ Văn M phạm tội "Trộm cắp tài sản"
