|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-PT-CTN Ngày 30 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tấn Tài.
- Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng; bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
- Ông Đinh Văn Hải và bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Các ngày 24 và ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLPT-HS-CTN ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Phan Ngọc Minh T. Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Ngô Hoàng B đối với Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
Bị cáo bị kháng cáo:
Phan Ngọc Minh T, sinh năm 1991, tại An Giang; nơi cư trú: khóm A, thị trấn H, huyện C, An Giang; nghề nghiệp: Giữ trẻ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh D sinh năm 1964 và bà Lê Thị Trúc L sinh năm 1966; chồng Nguyễn Thanh N, có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo Phan Ngọc Minh T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Ngọc Minh T: Bà Lê Lâm T1 – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)
- Người bị hại: Ngô Hoàng B, sinh ngày 10/10/2021 (chết);
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Ngô Hoàng B:
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1989; (có mặt)
- Ngô Văn Q, sinh năm 1987; (có mặt)
Nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã C, huyện C, An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2: ông Ngô Văn Q, sinh năm 1987; nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã C, huyện C, An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 27/9/2023)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Cao Thế L1 – Luật sư Công ty TNHH C; địa chỉ: số D, Lô A, B, khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; (có mặt)
- Ông Nguyễn Đình Thái H – Luật sư V; địa chỉ: số C đường số D, khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ; (có mặt)
- Bà Thái Thị Diễm T3 – Luật sư Công ty L3; địa chỉ: số A L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Ông Trần Thanh T4 - Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: số B đường số I, K.1, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Ông Phương Văn T5 - Luật sư V1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; (có mặt)
- Bà Huỳnh N1 - Luật sư V1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)
Cùng địa chỉ: A H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Chí K – Luật sư Công ty L5 chi nhánh Thành phố H; địa chỉ: A P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Ông Nguyễn Hoài N2 – Luật sư Công ty L6, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: số A đường số A, Kp A, KDC N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
- Người làm chứng: (Tất cả đều có mặt)
- Ông Nguyễn Trí Đặng .
- Trần Thị Minh T6, sinh năm 1981.
- Bà Lê Thị Trúc L, sinh năm 1966.
(Trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cơ sở giữ trẻ có bảng hiệu “Nhóm trẻ Minh N3” thuộc ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang do Phan Ngọc Minh T làm chủ cơ sở; Thư không có các giấy tờ theo quy định, cơ cấu tổ chức nhóm trẻ không đảm bảo số lượng người, một mình
T đảm nhận tất cả các công việc tại cơ sở trông giữ trẻ. Năm 2015, Ủy ban nhân dân xã V (huyện C, An Giang) có đến kiểm tra, phát hiện cơ sở giữ trẻ có bảng hiệu “Nhóm trẻ Minh N3” hoạt động nhưng không có quyết định về việc thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập nên yêu cầu T ngưng hoạt động; tuy nhiên, đến năm 2022 cơ sở vẫn chưa được cấp phép nhưng đã hoạt động trở lại. Ngày 25/5/2023, bị cáo Phan Ngọc Minh T nhận giữ 09 trẻ gồm: Phù Minh K1, Lâm Ngọc Tâm A, Nguyễn Minh K2, Trần Minh K3, Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Dương Ngọc Q1, Nguyễn Dương Thành P, Trần Thị Tố M1 và Ngô Hoàng B có độ tuổi từ 01 năm 07 tháng đến 04 năm 03 tháng; trong đó cháu Ngô Hoàng B sinh ngày 10/10/2021.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, Nguyễn Thị T2 đưa con ruột là Ngô Hoàng B đến gởi tại nhà trẻ bảng hiệu “Nhóm trẻ Minh N3” rồi đi làm tại Khu Công nghiệp B; đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T thấy cháu B khóc, có biểu hiện mệt và uốn mình nên gọi điện thoại cho T2 đến rước cháu B về để đưa đến bệnh viện thăm khám; T2 gọi điện thoại cho cha ruột tên Nguyễn Trí Đ đến rước cháu B, khi Đ đến nhà trẻ thì thấy cháu B có biểu hiện bị ngất xỉu nên sau đó đã cùng T2 đưa cháu B đến Trung tâm Y tế huyện C để cấp cứu. Tuy nhiên, cháu B đã tử vong trước khi vào Trung tâm Y tế huyện C; sau đó, Nguyễn Trí Đặng trình báo Công an xã V sự việc.
* Tại Bản kết luận giám định tử thi số 177/23/KLGĐTT-TTPY ngày 26/5/2023 của Trung tâm P1 - Sở Y, kết luận nguyên nhân chết của Ngô Hoàng B sinh năm 2021:
- Các kết quả chính: Kết mạc hai mắt trắng nhợt; Bầm máu vùng trán - đính - thái dương trái, kích thước (03 x 03)cm; Bầm máu mô ngón cái và đầu móng tay ngón I, II, IV, V bàn tay phải; Ô bụng chứa nhiều máu loãng lẫn máu cục; Bầm tụ máu, đứt vỡ phức tạp mạc treo, động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới;
- Kết luận nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do chấn thương bụng kín, đứt vỡ động mạch mạc treo.
Tại Bản cáo trạng số: 78/CT-VKS ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố Phan Ngọc Minh T về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Minh T phạm tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”:
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 129; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Minh T 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 14/9/2023.
- Cấm bị cáo Phan Ngọc Minh T trực tiếp quản lý, điều hành, trông coi, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2024, đại diện hợp pháp của bị hại Ngô Hoàng B là ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2 kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, thay đổi tội danh đối với bị cáo Phan Ngọc Minh T; về trách nhiệm dân sự: yêu cầu bị cáo bồi thường 250.000.0000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- · Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại là ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2 gửi trong hạn luật định, nên đủ cơ sở chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- · Về nội dung:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H1 khai: Ngày 25/5/2023, chị Nguyễn Thị T2 đưa cháu Ngô Hoàng B đến “Nhóm trẻ Minh N3” gửi cho T, buổi sáng cháu B ăn ít nhưng vẫn sinh hoạt bình thường. Đến 14 giờ, cháu B thức dậy, T kêu cháu B uống nước, khoảng 02 phút sau T trong nhà vệ sinh nghe tiếng khóc của cháu B nên đi ra thì thấy B ươn mình nên điện thoại cho chị T2 đến đón cháu B; T không đánh cháu B và không thấy cháu B té. Tuy nhiên, bà Lê Thị Trúc L (mẹ bị cáo T) lại khai khoảng hơn 11 giờ ngày 25/5/2023 bà L đã nghe tiếng khóc lớn của một đứa trẻ nhưng không biết là ai, sau khi biết tin cháu B chết, bà L hỏi T mới biết tiếng khóc lúc trưa là của B. Mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo T và bà L về thời gian cháu B khóc trở bệnh chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.
Tại bản kết luận giám định tử thi và biên bản khám nghiệm tử thi ngày 26/5/2024 (Bút lục số 43 - 48) thể hiện cháu B bị: Nứt sọ vùng đính trái dài 12cm; đứt vỡ động mạch mạc treo. Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do chấn thương bụng kín, đứt vỡ động mạch mạc treo, nhưng hồ sơ chưa làm rõ nguyên nhân dẫn đến các vết thương này của cháu B; Biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận đầy đủ vị trí, diện tích các khu trong khuôn viên nhà nơi giữ trẻ. Ngoài ra, các biên bản hỏi cung Phan Ngọc Minh T cũng chưa thể hiện rõ hàng ngày T cho các bé hoạt động ở khu vực nào, có rào chắn hay không, vị trí cao nhất tại khu vực các bé đi lại để xác định cơ chế hình thành vết thương của cháu B.
Bên cạnh đó, việc ghi nhận trong bản án và biên bản nghị án còn nhiều thiếu sót: Về án phí dân sự sơ thẩm trong Bản án gốc, bản án phát hành của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xác định án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Phan Ngọc Minh T
phải chịu không thống nhất và không đúng quy định, cụ thể bản án gốc thể hiện án phí hình sự sơ thẩm là 3.650.000.000 đồng, bản án phát hành thể hiện 2.650.000.000 đồng, nhưng số tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định bị cáo chỉ phải nộp là 3.650.000 đồng. Đồng thời, việc áp dụng điểm, khoản, điều luật khi xử lý vật chứng cũng không thống nhất: Bản án gốc và biên bản nghị án áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; nhưng Bản án phát hành chỉ áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nhận thấy, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thầm không thể bổ sung được và các sai sót nêu trên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo quy định.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm b, c khoản 1, khoản 5 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân huyện C, tỉnh An Giang để điều tra lại theo thủ tục chung.
Ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh và mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xét xử. Không thống nhất quan điểm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát đề nghị vì trường hợp vi phạm tố tụng nhưng không làm thay đổi tính chất vụ án thì không cần hủy bản án sơ thẩm; gia đình bị cáo đã khắc phục số tiền 120.000.000đ cho gia đình bị hại đồng thời tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã chấp nhận bồi thường cho gia đình bị hại theo yêu cầu của bị hại là 250.000.000đ. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, toàn diện vụ án để tuyên bị cáo mức án 01 năm tù. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chỉ sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, giữ nguyên phần hình phạt với tội danh “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại trình bày:
Thống nhất quan điểm hủy án của đại diện Viện kiểm sát về việc vi phạm tố tụng nghiêm trọng; cần tiến hành thực nghiệm lại hiện trường vụ án. Đồng thời, khi trả hồ sơ cần có kiến nghị cụ thể về những vấn đề cần làm rõ trong vụ án: nguyên nhân xuất hiện những vết thương trên cơ thể của bị hại B, kết luận giám định chỉ rõ bị hại có thế bị rơi từ trên cao gây tổn thương nghiêm trọng tuy nhiên – khi không có cơ sở xác định được thời gian, vị trí bị hại bị ngã và tại sao ngã do bị cáo cũng khai nhận khoảng thời gian từ 06 – 14 giờ cháu B không ngã, không bị tác động nào khác; bị cáo khai nhận khi đỡ bị hại, miệng bị hại có dịch vàng chảy ra nhưng cơ quan điều tra không tiến hành giám định chất dịch này là gì, nguyên nhân có chất dịch là từ đâu; cần làm rõ vai trò của bà L trong vụ án; Lời khai của những người làm chứng có mâu thuẫn nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ; Quá trình điều tra chưa xác định được vật tày gây ra thương tích cho bị hại như kết luận giám định; Cần làm rõ những người thân của bị cáo trong thời gian xảy ra vụ án,
họ đã làm gì để xem xét trường hợp bỏ lọt người phạm tội; bị cáo chưa thành khẩn khai báo; Việc giải quyết khiếu nại của cơ quan Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa được thực hiện và giải quyết theo đúng thẩm quyền. Tại bản án sơ thẩm nhận định cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng thẩm quyền, quy định của pháp luật trong khi gia đình bị hại đã có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, những người tiến hành tố tụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 do vi phạm nghiêm trọng tố tụng và làm rõ những vấn đề nêu trên.
Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không thống nhất vì đã có vi phạm nghiêm trọng tố tụng nên nếu chỉ sửa án về phần trách nhiệm dân sự là chưa phù hợp với tính chất, mức độ của vụ án, nếu làm rõ được những vấn đề vừa nêu thì tính chất vụ án sẽ có sự thay đổi.
Bị cáo thống nhất quan điểm bào chữa của người bào chữa, không tranh luận và bào chữa bổ sung gì thêm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất quan điểm của những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không tranh luận và trình bày bổ sung thêm.
Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không tranh luận thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại là ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2 làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về tội danh: Đại diện hợp pháp của bị hại không đồng ý với tội danh “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, cho rằng có dấu hiệu của tội “Giết người” hay một tội phạm nào khác, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Xét thấy, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các bước để thu thập chứng cứ, tuy chưa xác định được nguyên nhân nào cháu B có những vết thương trên cơ thể dẫn đến tử vong. Tuy nhiên theo Kết luận giám định cũng như giải thích của cơ quan chuyên môn, cơ chế hình thành vết thương của cháu B do vật tày có diện rộng gây ra, không do tác động của con người gây ra. Mặt khác, bị cáo nhận giữ các trẻ nhằm để có thu nhập hàng tháng để nuôi sống gia đình bản thân, bị cáo phải cố gắng chăm sóc các bé thật chu đáo để tạo lòng tin cho cha, mẹ các bé khi gởi các bé tại cơ sở của bị cáo. Bản thân bị cáo cũng không có mâu thuẫn gì với gia đình bị hại, Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được động cơ, mục đích, nguyên nhân cái chết của
cháu B là do bị cáo thực hiện, nên không đủ căn cứ để quy kết bị cáo về tội “Giết người” theo yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại. Do bị cáo Phan Ngọc Minh T là người có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, mặc dù đã học và có một số chứng chỉ nghiệp vụ do Nhà nước cấp như: Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; chứng chỉ nghề đào tạo cấp dưỡng; tuy nhiên, do không có bằng tốt nghiệp Trung cấp sư phạm mầm non hoặc Cao đẳng sư phạm mầm non nên không đủ điều kiện để cơ quan quản lý Nhà nước cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở giữ trẻ Minh N3, nhưng bị cáo vẫn thành lập cơ sở để hoạt động. Do không đảm bảo về số lượng giáo viên quản lý chăm sóc các bé, dẫn đến hậu quả cháu B bị chấn thương vùng bụng và tử vong mà không biết được nguyên nhân vì sao. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi vô ý do cẩu thả, xem thường các quy tắc nghề nghiệp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác và sự an toàn của xã hội được quy định tại Quy chế về tổ chức và hoạt động Trường mầm non T7 ban hành kèm theo Thông tư số 13/2015/TT-BGDĐT ngày 30/6/2015 của Bộ G, cháu B chết tại cơ sở giữ trẻ của bị cáo và bị cáo phải có nghĩa vụ trông coi, nên cấp sơ thẩm đưa ra xét xử bị cáo về tội danh “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, khi quyết định hình phạt đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” là phù hợp với quy định pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Đối với những vi phạm về tố tụng của cấp sơ thẩm mà đại diện Viện kiểm sát cũng như các vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại đưa ra như: Về án phí dân sự sơ thẩm trong Bản án gốc, bản án phát hành của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xác định án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Phan Ngọc Minh T phải chịu không thống nhất và không đúng quy định, cụ thể bản án gốc thể hiện án phí hình sự sơ thẩm là 3.650.000.000 đồng, bản án phát hành thể hiện 2.650.000.000 đồng, nhưng số tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định bị cáo chỉ phải nộp là 3.650.000 đồng. Đồng thời, việc áp dụng điểm, khoản, điều luật khi xử lý vật chứng cũng không thống nhất: Bản án gốc và biên bản nghị án áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; nhưng Bản án phát hành chỉ áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nhận thấy, đây là những sai sót trong khâu đánh vi tính, cũng như tính toán sai về án phí dân sự trong hình sự. Lẽ ra, theo quy định tại các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật tố tụng hình sự Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ban hành Quyết định sửa chữa bổ sung Bản án, nhưng Thẩm phán lại không thực hiện. Mặt khác đối với số tiền mà bị cáo và gia đình nộp để khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình bị hại, đây không phải là vật chứng trong vụ án, nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý là không đúng, trong trường hợp này chỉ cần tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án. Xét thấy, những sai sót này không làm ảnh hưởng cũng như thay đổi nội dung, tính chất của vụ án, cũng không phải
là căn cứ để hủy án, tuy nhiên cũng cần nêu ra để cấp sơ thẩm phải nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về yêu cầu hủy án và xem xét lại tội danh đối với bị cáo T.
[2.2] Về phần bồi thường thiệt hại: Trong quá trình xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 250.000.000 đồng, nhưng cấp sơ thẩm chỉ công nhận số tiền bị cáo T phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 133.000.000 đồng, nên có kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Ngọc Minh T đã đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 250.000.000đ cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa sơ thẩm chị T2 đại diện hợp pháp cho bị hại có nhận số tiền bồi thường 20.000.000 đồng (do anh Nguyễn Thanh N chồng bị cáo T nộp thay theo biên nhận ngày 30/01/2024, có ký nhận giữa anh Nguyễn Thanh N và chị Nguyễn Thị T2) do đó số tiền còn lại bị cáo T phải bồi thường tiếp là 230.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp bị hại nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện, chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại về số tiền bồi thường thiệt hại. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về phần trách nhiệm dân sự. Do trong quá trình điều tra cũng như giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo T và gia đình có nộp số tiền 100.000.000 đồng, nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo việc thi hành án.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh cũng như mức hình phạt đối với bị cáo T, sửa một phần bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý nếu có dấu hiệu của tội phạm khác cũng như người phạm tội khác
[3] Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong hình sự trên số tiền bồi thường thiệt hại như sau: 250.000.000 đồng - 120.000.000 đồng (trong đó 20.000.000 đông do chị T2 nhận và 100.000.0000 đồng do bị cáo nộp) = 130.000.000 đồng x 5% = 6.500.000 đồng.
Ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu hủy bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024; chấp nhận kháng cáo yêu cầu bị cáo Phan Ngọc Minh T bồi thường thiệt hại là 250.000.000đ của người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Ngô Văn Q và bà Nguyễn Thị T2. Sửa bản án 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 về phần trách nhiệm dân sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Minh T phạm tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 129; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Minh T 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 14/9/2023.
- - Cấm bị cáo Phan Ngọc Minh T trực tiếp quản lý, điều hành, trông coi, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.
2. Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Phan Ngọc Minh T bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 230.000.000đ do anh Ngô Văn Q, chị Nguyễn Thị T2 đại diện nhận.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000.000 đồng do bị cáo T và gia đình bị cáo nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 06/10/2023, nộp vào tài khoản số 6709203000030 tại kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh An Giang; biên lai thu 0002276 ngày 18/01/2024 và biên lai thu số 0002306 (do anh Nguyễn Thanh N nộp thay) tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc Minh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong hình sự. Cộng chung là 6.700.000 (Sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tấn Tài |
Bản án số 14/2024/HS-PT-CTN ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp
- Số bản án: 14/2024/HS-PT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thế C cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
