TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HSST.
Ngày: 30-7-2024.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Phước Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hữu Hoan, bà Vũ Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai (trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024, đối với bị cáo:
VĂN QUỐC L sinh ngày: 20/3/1988 tại Phú Yên.
Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Phú B, sinh năm 1960 và bà Trần Thị B1, sinh năm 1964, Vợ: Nguyễn Thị Kim T – Sinh năm 1990.
Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến ngày 11/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa ở điểm cầu thành phần).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Hoàng Thị Thúy H, sinh năm 1979.
Nơi cư trú: số F L, phường B, quận B, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị Thúy H:
Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng:
- anh Võ Tấn K, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Văn Quốc L, sinh năm 1988 trú tại thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên là tài xế lái xe ô tô khách của Nhà xe 9 T2 có địa chỉ tại tỉnh Phú Yên.
Ngày 12/01/2024, L và tài xế Nguyễn Đức T1 - sinh năm 1989 cùng phụ xe Võ Tấn K - sinh năm 1980 được Nhà xe 9 Toàn giao xe ô tô khách biển số 51B-267.90 chở khách và hàng hóa đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra tỉnh Phú Yên. Vào buổi trưa cùng ngày (không nhớ thời gian cụ thể), khi đang ở bãi đậu xe khách gần khu vực Bến xe A, thành phố Hồ Chí Minh để chờ hành khách lên xe ô tô thì có 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch chạy xe mô tô (không xác định được biển số, hiệu xe) chở 04 thùng carton dạng hình hộp chữ nhật được dán kín đi đến gặp L và nói gửi hàng về Phan R. Người đàn ông này nói cho L biết trong 04 thùng carton là thuốc lá điếu và thoả thuận giá cước vận chuyển là 800.000 đồng. L đồng ý chở và nhận tiền. Người đàn ông đưa cho L số điện thoại của người nhận là 0859.550.427 để liên hệ giao 04 thùng carton thuốc lá điếu. Sau đó, L một mình bốc 04 thùng carton chứa thuốc lá điếu lên xe ô tô khách và không nói cho anh T1 và anh K biết. Khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, anh T1 điều khiển xe ô tô khách cùng với L và anh K xuất bến chạy đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để đón khách và hàng hóa, rồi chạy đi hướng tỉnh Bình Thuận. Khi xe chạy đến địa phận P, tỉnh Bình Thuận thì L thay anh T1 điều khiển xe ô tô khách chạy theo đường Q hướng ra tỉnh Phú Yên, còn anh T1 xuống xe và đón xe khách đi vào lại thành phố Hồ Chí Minh và anh K thì nằm ngủ ở phía sau xe. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đang điều khiển xe ô tô khách, L dùng điện thoại di động hiệu NOKIA, loại bàn phím, có gắn thẻ sim 0332.049.339 của nhà xe 9 Toàn giao cho phụ xe Khải quản lý dùng để liên lạc đón trả khách và nhận hàng hoá gọi vào số điện thoại 0859.550.xxx của người nhận 04 thùng carton chức thuốc lá điếu thì có 01 người phụ nữ nghe máy và người phụ nữ này nói L để thuốc lá điếu phía ngoài quán C thuộc địa phận huyện T, tỉnh Ninh Thuận (L biết quán C vì trước đây chạy xe ô tô có ghé quán ăn cơm).
Lúc 00 giờ 40 phút ngày 13/01/2024, L dừng xe ô tô khách và cùng với K bốc 04 thùng carton chứa thuốc lá điếu để xuống lề đường Quốc lộ 1A thuộc thôn Ấ, xã L, huyện T thì bị Công an tỉnh N bắt quả tang, kiểm tra bên trong 04 thùng carton là 280 cây thuốc lá (trong đó 140 cây thuốc lá hiệu JET và 140 cây thuốc lá hiệu SCOTT).
Tại Công văn số 82/CV-2024 HHTLVN ngày 19/4/2024 của H2 xác định những mẫu thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, SCOTT mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T gửi đến H thuốc lá Việt Nam là thuốc lá điếu nhập lậu.
Bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Văn Quốc L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Văn Quốc L từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Đề nghị áp Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị cáo Văn Quốc L khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 00 giờ 40 phút ngày 13/01/2024, công văn số 82/CV-2024 HHTLVN ngày 19/4/2024 của H2, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ căn cứ xác định: Ngày 12/01/2024, Văn Quốc L điều khiển xe ô tô khách vận chuyển 2.800 bao thuốc lá điếu hiệu JET và SCOTT, không có hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch từ thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Ninh Thuận để nhận tiền công là 800.000 đồng. Lúc 00 giờ 40 phút ngày 13/01/2024, khi L để số thuốc lá điếu nhập lậu bên lề đường Quốc lộ 1A thuộc thôn Ấ, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thì bị Công an tỉnh N bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Văn Quốc L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
- Hành vi trên của bị cáo Văn Quốc L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Xét về nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
Bị cáo Văn Quốc L là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Nhưng vì hám lợi số tiền 800.000đ là tiền thuê vận chuyển và nhất thời thiếu suy nghĩ, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu cho người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi của bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có ông nội tham gia cách mạng, có bà nội là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, chấp hành tốt pháp luật, nghĩa vụ công dân. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng chỉ với vai trò là người vận chuyển hàng cấm thuê cho người khác thu lợi số tiền 800.000đ, chưa nhận thức được đầy đủ đây là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành, trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý hình sự. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã bị phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời, chưa phát sinh hậu quả xấu. Xét bị cáo có đủ các điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC 07/9/2022, về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị Thúy H giao xe ô tô khách biển số 51B-267.90 cho bị cáo để sử dụng chở và không biết bị cáo sử dụng xe ô tô để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan điều tra trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định trên cho chị Hoàng Thị Thúy H. chị Hoàng Thị Thúy H không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xem xét.
- Đối với người đàn ông đã thuê bị cáo L vận chuyển 04 thùng carton chứa thuốc lá điếu nhập lậu và người phụ nữ liên lạc với bị cáo qua số điện thoại 0859.550.xxx để nhận thuốc lá điếu nhập lậu thì chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra và xử lý sau khi có đủ căn cứ là phù hợp.
- Đối với chị Hoàng Thị Thúy H (chủ xe ô tô khách), anh Nguyễn Đức T1 và Võ Văn K1 hoàn toàn không biết L vận chuyển 04 thùng carton chứa thuốc lá điếu nhập lậu nên không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo L.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe ô tô khách biển số 51B-267.90 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng, Imei: 359097700366811. Qua điều tra xác định, đây là các tài sản thuộc sở hữu của chị Hoàng Thị Thúy H trú tại phường B, quận B, TP ... Việc bị cáo L sử dụng xe ô tô khách vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và dùng điện thoại để liên lạc giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu thì chị H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại xe ô tô và điện thoại cho người đại diện theo uỷ quyền của chị H là có căn cứ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, Imei: 350320/36/635128/4. Qua điều tra xác định, chiếc điện thoại này thuộc sở hữu của bị cáo Văn Quốc L nhưng không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện T trả lại cho bị cáo L là có căn cứ.
- Đối với 2.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó 1.400 bao thuốc lá điếu hiệu JET và 1.400 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT) nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 800.000 đồng mà bị cáo L có được từ việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên tịch thu xung công quỹ Nhà nước.
- Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo L, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo, về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: điểm b Khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Văn Quốc L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Văn Quốc L 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2024).
Giao Bị cáo Văn Quốc L cho Ủy ban Nhân dân xã xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 2.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó 1.400 bao thuốc lá điếu hiệu JET và 1.400 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT) lá điếu nhập lậu thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) mà bị cáo L có được từ việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu theo Ủy nhiệm chi ngày 30/5/2024.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Văn Quốc L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt Bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. (đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phước Trí |
Bản án số 14/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN về vận chuyển hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 14/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Văn Quốc L phạm tội vận chuển hàng cấm
