Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dềnh Bá Lồng;
Ông Trần Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Văn M; tên gọi khác: không;

Sinh ngày 28/6/1988 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn C và bà Nguyễn Thị H (Đã chết); vợ: Giáp Thị N, sinh năm 1991 và có 01 (Một) con; tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo Chu Văn M bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần Đ (Địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An), người đại diện là ông Lê Đình H1, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

Ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Lê Văn A, chức vụ: Phó giám đốc. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty Cổ phần Đ1 (Địa chỉ: Xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An),

người đại diện là ông Thái Ngô T, chức vụ: Giám đốc. Ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Lê Văn A, chức vụ: Phó giám đốc. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

  1. A Nguyễn Đình C1, Sinh năm 1987; Nơi cư trú: bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Những người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Xóm H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1990; Nơi cư trú: bản C, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Anh Lương Văn P, sinh năm 1989; Nơi cư trú: bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng số 13/CT-VKS-KS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Chu Văn M đã có hành vi trộm cắp tài sản và bị truy tố theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn M đã thừa nhận có hành vi trộm cắp tài sản với các tình tiết đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Khoảng 20 giờ, ngày 14/3/2024, Chu Văn M mượn xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, BKS: 37E1-03935 của anh Nguyễn Đình C1, sinh năm 1987, trú tại bản C, xã X, huyện T đi từ xã H, huyện K đến bản L, xã C, huyện K để lấy trộm bình ắc quy của xe Lu. Khi đến nơi, quan sát không có người xung quanh Chu Văn M đã nhặt 01 thanh sắt loại phi 14, dài khoảng 50cm để cạy ổ khoá rồi mở nắp bảo vệ bình ắc quy lấy trộm 02 bình ắc quy của xe Lu.

Sau khi lấy trộm bình ắc quy, Chu Văn M điều khiển xe máy quay ra ngã ba X, thuộc bản X, xã C, rồi gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975, trú tại xóm H, xã Y, huyện Đ (Là chủ cửa hàng thu mua sắt vụn) để bán 02 chiếc bình ắc quy, Chu Văn M và chị Nguyễn Thị T1 thỏa thuận 02 chiếc bình ắc quy có giá 1.400.000 (Một triệu, bốn trăm nghìn) đồng. Sau đó, Chu Văn M đón xe khách Quân L đồng thời gửi số điện thoại của chị Nguyễn Thị T1 để Nhà xe giao 02 chiếc bình ắc quy trên.

Ngày 15/3/2024, sau khi phát hiện bị mất 02 chiếc bình ắc quy của xe Lu, anh Lê Văn A, sinh năm 1987, trú tại xóm A, xã Q, huyện Q (người được Công ty cổ phần Đ1 giao quản lý chiếc xe Lu) đã làm đơn trình báo đến Công an huyện K.

Sau khi xác định Chu Văn M1 là người thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc bình ắc quy, Công an huyện K đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Chu Văn M.

Ngày 18/3/2024, Công an huyện K đã có văn bản Yêu cầu định giá tài sản số 182 gửi Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện K để định giá 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107, ắc quy đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện K, tỉnh Nghệ An kết luận: 02 (hai) bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107, ắc quy đã qua sử dụng có giá là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Chu Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình, mục đích ắc quy là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi 02 (hai) bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107, ắc quy đã qua sử dụng đã được trả lại cho anh Lê Văn A.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Chu Văn M từ 06 (S) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng; đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên bố trả tự do cho bị cáo; ngoài ra còn đề nghị giải quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Đại diện bị hại vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra đã xác nhận hai bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng) nên không có yêu cầu gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi vi phạm của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Chu Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14/3/2024 tại bản La Ngan, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, Chu Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 (hai) bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107 có giá trị 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Vì vậy, hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, hoang mang trong quần chúng. Do đó cần tuyên phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.1] Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có khả năng tự cải tạo vì vậy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3.2] Bị cáo đang tạm giam nhưng bị xử phạt tù cho hưởng án treo và không

bị tạm giam về tội phạm khác vì vậy cần áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

[4] Đối với chị Nguyễn Thị T1 là người mua 02 (Hai) chiếc bình ắc quy do Chu Văn M trộm cắp mà có và anh Nguyễn Hữu Q người nhận vận chuyển 02 bình ắc quy của Chu Văn M, quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Hữu Q không biết 02 bình ắc quy trên do Chu Văn M trộm cắp mà có nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự.

Đối với anh Nguyễn Đình C1 là người cho Chu Văn M mượn xe máy, sau đó Chu Văn M sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Đình C1 không biết Chu Văn M mượn xe máy để đi trộm cắp nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự.

[5] Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho phía bị hại, đồng thời phía gia đình bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), vì vậy đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án: 02 (hai) bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107, ắc quy đã qua sử dụng đã được trả lại cho anh Lê Văn A là đúng quy định của pháp luật; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX BKS: 37E1-03935 đã được trả lại cho anh Nguyễn Đình C1 là đúng quy định của pháp luật; 01 (một) thanh sắt loại phi 14, dài khoảng 50cm mà Chu Văn M sử dụng cạy khóa để trộm bình ắc quy, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy; đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i, số IMEI1: 860343042260334, số IMEI 2: 860343042260326 gắn thẻ sim 0356618158 thu giữ của Chu Văn M là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu để bán hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Chu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Chu Văn M 08 (T2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án

sơ thẩm (ngày 30/5/2024).

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Chu Văn M tại phiên tòa.

Giao bị cáo Chu Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i, số IMEI1: 860343042260334, số IMEI 2: 860343042260326 gắn thẻ sim 0356618158 thu giữ của Chu Văn M bán hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/4/2024 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/5/2024); bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

(Ký tên)

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Vân Lê Hữu Lộc
Dềnh Bá Lồng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn;
  • - Công an huyện Kỳ Sơn (Cơ quan điều tra,
  • Cơ quan THA hình sự);
  • - UBND xã Đà Sơn, huyện Đô Lương;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kỳ Sơn;
  • - Các bị cáo, Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14/3/2024 tại bản La Ngan, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Chu Văn Mạnh đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 (hai) bình ắc quy nhãn hiệu GS N150, màu xanh trắng, có kích thước (50x21x21) cm có số hiệu E120.080.220.006 và E107.080.120.107 có giá trị 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger