TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/KDTM-ST Ngày: 29/7/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thanh Thúy
Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre
Vào ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2024/TLKDTM-ST về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST- KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2024/QĐST-KDTM ngày 11/7/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1)
Địa chỉ: H Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – chức vụ: Chủ tịch HĐQT
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hoàng Xuân H – CV xử lý nợ K (có mặt)
Địa chỉ: số C tầng C N, phường A quận N, thành phố Cần Thơ
* Bị đơn: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn S
Trụ sở chính: Số C N, Khu phố B, Phường P, TP ., Bến Tre.
Đại diện: Ông Trần Anh D1, sinh năm: 1987 - Chức vụ : Giám Đốc. (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 553B, KP3, Phường P, TP ., Tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ liên lạc: Số E, KP3, Phường P, TP ., Tỉnh Bến Tre.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Anh D1, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 553B, KP3, Phường P, TP ., Tỉnh Bến Tre.
Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm: 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số E, Khu phố C, Phường P, TP ., Tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V tham gia tố tụng là ông Nguyễn Hoàng Xuân H trình bày:
Công ty TNHH S đã vay vốn tại V1 – Chi nhánh T theo Hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/22108 ngày 11 tháng 12 năm 2022, hạn mức cho vay: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng), thời hạn vay 05 tháng, cụ thể như sau:
Khế ước nhận nợ: hợp đồng bảo lãnh số ETG/22109 ngày 10/11/2022. Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng. Thời hạn: 05 tháng. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 16,70%/năm, điều chỉnh 01 tháng/lần theo quy định từng thời kỳ. Ngày giải ngân, ngày đến hạn: 20/5/2023 – 20/10/2023. Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản, buôn bán thức ăn và nguyên liệu làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, V1 và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau tiền vay là: Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trần Anh D1 và bà Phạm Thị Thu H1 theo hợp đồng bảo lãnh số: ETG/22109 ngày 10/11/2022 giữa V1, ông Trần Anh D1 và bà Phạm Thị Thu H1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH S đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty TNHH S chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 28/02/2024, Công ty TNHH S còn nợ V1 các khoản sau: Nợ gốc: 2.999.999.326 đồng, Nợ lãi trên nợ gốc trong hạn: 457.767.541 đồng. Tổng cộng: 3.457.766.867 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng)
Nay yêu cầu Tòa xem xét và phán quyết buộc:
- Buộc Công ty TNHH S phải trả ngay một lần cho V1 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 28/02/2024 là: Nợ gốc: 2.999.999.326 đồng. Nợ lãi: 457.767.541 đồng. Tổng cộng: 3.457.766.867 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, bốn trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn, tám trăm sáu mươi bảy đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày 29/02/2024, Công ty TNHH S vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1.
- Trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, Trần Anh D1 và bà Phạm Thị Thu H1 liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số: ETG/22109 ngày 10/11/2022 đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời ông Trần Anh D1 với vai trò là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S và với vai trò người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mời bà Phạm Thị Thu H1 với vai trò người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến để tiến hành hòa giải nhưng ông D1, bà H1 vắng mặt không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: ngày 01/3/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1) có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH S trả số tiền vay tính đến ngày 28/02/2024 là 3.457.766.867 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/22109 ngày 10/11/2022 giữa V1, ông Trần Anh D1 và bà Phạm Thị Thu H1. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Công ty TNHH S có trụ sở tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S là ông Trần Anh D1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Anh D1, bà Phạm Thị Thu H1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D1, bà H1 vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời ông cũng không có người đại diện nên không thể tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với Công ty TNHH S và ông D, bà H1
[3] Về nội dung vụ án: ngày 10/11/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh T (Ngân hàng V1) có cho Công ty TNHH S vay số tiền theo hạn mức là 3.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), Thời hạn: 05 tháng. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 16,70%/năm, điều chỉnh 01 tháng/lần theo quy định từng thời kỳ. Ngày giải ngân, ngày đến hạn: 20/5/2023 – 20/10/2023. Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản, buôn bán thức ăn và nguyên liệu làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và thuỷ sản. Theo Hợp đồng cho vay hạn mức ETG/22109 ngày 10/11/2022. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay Công ty TNHH S đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty TNHH S chuyển nợ quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 28/02/2024, Công ty TNHH S còn nợ V1 các khoản sau: Nợ gốc: 2.999.999.326 đồng. Nợ lãi: 457.767.541 đồng. Tổng cộng: 3.457.766.867 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, bốn trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn, tám trăm sáu mươi bảy đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty TNHH S phải thanh toán cho Ngân hàng V1 khoản nợ trên, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 29/02/2024 cho đến khi Công ty TNHH S trả tất nợ cho Ngân hàng V1. Trường hợp, Công ty TNHH S không trả được nợ nêu trên thì Ngân hàng V1 yêu cầu ông Trần Anh D1, bà Phạm Thị Thu H1 hiện nghĩa vụ trả nợ thay theo hợp đồng bảo lãnh.
Tại khoản 1, Điều 2 Hợp đồng bảo lãnh số ETG/22109 ngày 11/10/2022 thể hiện: "Bằng toàn bộ tài sản, uy tín và trách nhiệm của mình, Bên bảo lãnh cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt,các khoản bồi thường thiệt hại, các khoản phải hoàn trả và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh đối với bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng...”. Hợp đồng bảo lãnh đã thể hiện việc bảo lãnh là vô điều kiện và không được hủy ngang. Điều này chứng tỏ ông D1 không những phải chịu trách nhiệm với tư cách là đại diện theo pháp luật - chủ sở hữu Công ty TNHH S mà ông D1 và bà H1 còn phải chịu trách nhiệm bảo lãnh theo Hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy nếu Công ty TNHH S không trả thì ông D1, bà H1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Đồng thời ông D1, bà H1 có quyền yêu cầu Công ty TNHH S phải thanh toán phần nghĩa vụ bảo lãnh cho lại cho mình. Do đó yêu cầu của Ngân hàng V1 là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được chấp nhận nên án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch Công ty TNHH S phải chịu là: 101.155.000 đồng (Một trăm lẽ một triệu một trăm năm mươi lăm ngàn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 351, 352; 335; 336; 338; 340; 342; 463; 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ các Điều 30, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cụ thể tuyên:
Buộc Công ty TNHH S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V (Do Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh T nhận thay) số tiền tổng cộng là 3.457.766.867 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, bốn trăm năm mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi sáu ngàn, tám trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó nợ gốc là 2.999.999.326 đồng. Nợ lãi là 457.767.541 đồng
Công ty TNHH S còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số ETG/22108 ngày 11/10/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH S từ ngày 29/02/2024 cho đến khi Công ty TNHH S trả tất nợ cho Ngân hàng TMCP V.
Trường hợp, Công ty TNHH S không trả được nợ nêu trên thì ông Trần Anh D1, bà Phạm Thị Thu H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số Hợp đồng bảo lãnh số ETG/22108 ngày 11/10/2022.
- Về án phí: Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là: 101.155.000 đồng, (Một trăm lẽ một triệu một trăm năm mươi lăm ngàn đồng) Công ty TNHH S phải nộp. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí là 50.578.000 đồng (Năm mươi triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001145 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Phong |
Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng
