|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy
Ông Nguyễn Như Điệu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1978. Địa chỉ: 1 S, phường S, quận T, TP . Chỗ ở hiện nay: Căn hộ S Chung cư E, phường S, quận T, TP . (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1968. HKTT: Tổ 27 khu phố B S, quận T, TP . Chỗ ở hiện nay: Ngõ T, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2023, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ, kèm theo đơn khởi kiện có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hữu T kết hôn ngày 29/9/1998 trên cơ sở tự nguyện, được UBND phường A1, quận T, thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục kết hôn và cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về chung sống với nhau ở thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2007, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống do việc chi tiêu tiền bạc không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 15 năm. Từ thời điểm sống ly thân, anh T về T, tỉnh Bắc Ninh sinh sống và làm việc còn chị và 2 con chung thì ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi sống ly thân cho đến nay, chị và anh T không liên lạc gì với nhau và cũng chưa gặp lại nhau lần nào. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị xin được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung Nguyễn Thị Kiều A, sinh ngày 13/10/1996 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 07/11/1998. Các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ và trích chia công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo bản tự khai và biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/4/2024, anh T trình bày:
Anh và chị Lê Thị H có đăng ký kết hôn tại A1, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 29/9/1998. Trước khi kết hôn, anh và chị H có tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống với nhau tại nhà của bố mẹ anh ở thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng giữa năm 2008, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau. Năm 2010 anh chuyển ra sống ở khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh còn chị H sống tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2008 cho đến nay không ai liên lạc với ai và cũng chưa gặp lại nhau lần nào. Anh chỉ liên hệ với các con để hỏi thăm tình hình của các con, thi thoảng anh có vào thành phố Hồ Chí Minh thì anh cũng chỉ đến thăm và ở chơi với các con. Quá trình sống ly thân thì anh và chị H không phát sinh quan hệ tình cảm gì. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung Nguyễn Thị Kiều A, sinh ngày 13/10/1996 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 07/11/1998. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đảm bảo đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71,72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 232, 235, 262, 266, 271, 273 BLTTDS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều A, sinh ngày 13/10/1996 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 07/11/1998. Do các con đã trưởng thành, chị H và anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, kết hợp với kết quả thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về tố tụng:
-
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp trong vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Hữu T có hộ khẩu thường trú tại Tổ B khu phố B S, quận T, TP . nhưng hiện nay anh T hiện đang sinh sống và làm việc tại địa chỉ Ngõ T, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về sự vắng mặt của các đương sự: Xét nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
-
-
Về nội dung:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Hữu T kết hôn ngày 29/9/1998, việc kết hôn là tự nguyện, tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn, được UBND phường A1, quận T, thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục kết hôn và chứng nhận đăng ký kết hôn. Nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp, nếu một trong các bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
-
Xét tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Hữu T thấy: Trong thời kỳ hôn nhân đời sống tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi nhau, đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Hiện tại, mỗi người sống một nơi, anh T sống tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh còn chị H sống tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, không còn quan tâm đến nhau. Nay cả chị H và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn nên cần xử cho chị H được ly hôn anh T.
-
Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Hữu T có 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều A, sinh ngày 13/10/1996 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 07/11/1998. Các con của anh chị đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự, không bị nhược điểm về thể chất và trí tuệ, chị H và anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về tài sản chung, công nợ và trích chia công sức: Các bên không có yêu cầu do vậy cũng không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật
-
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 146, 147, 235, 264, 266, 267, 271, 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H
-
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
-
Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Hữu T có 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều A, sinh ngày 13/10/1996 và Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 07/11/1998. Cả hai con chung đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự, không bị nhược điểm về thể chất và trí tuệ nên không xem xét giải quyết.
-
Về tài sản chung, công nợ và trích chia công sức: Các bên đương sự không yêu cầu nên cũng không đặt ra giải quyết.
-
Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm sơ thẩm theo Biên lai thu số AA/2023/0000200 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niên yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H ly hôn Nguyễn Hữu T
