Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Bạch Tuyết – Chủ tịch Hội khuyến học huyện Cần Giờ
  2. Ông Hồ Bạch Long – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh M - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Thanh T (Lưu B);

Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/10/2003; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số A ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: tổ A ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Thanh T1 và bà Nguyễn Thanh T2; A, chị, em: có 02 người, sinh năm 2000 và 2006. Vợ, con: Không có; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 09/2020/HS-ST), chấp hành xong án phạt tù ngày 19/12/2020. Ngày 02/01/2019 bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện C ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vì có hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 23/7/2019 bị Công an phường T, Quận G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo vì có hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 05/11/2019 bị Công an xã L, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 15/01/2020 bị Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo vì có hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo quyết định khởi tố vụ án số 78 ngày 03/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An cho đến nay.

2. Cao Lê Hoài Nam (Bé L);

Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/02/2003; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số B ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Số B ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Cao Văn S và bà Lê Thị M1; A, chị, em: có 04 người (lớn nhất sinh năm: 1991, nhỏ nhất sinh năm: 1997). Vợ, con: Không có; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo quyết định khởi tố vụ án số 78 ngày 03/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An cho đến nay.

3. Nguyễn Văn G;

Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/3/2005; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Bích T3; A, chị, em: có 01 người, (sinh năm: 2017). Vợ, con: Không có; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo quyết định khởi tố vụ án số 78 ngày 03/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An cho đến nay.

4. Quách Hữu T4;

Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/6/2004; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Quách Hữu V và bà Phạm Thị L1; A, chị, em: không có. Vợ, con: Không có; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2023 cho đến nay.

· Bị hại: Võ Thành L2, sinh năm: 2004, hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị hại: Hồ Khánh N, sinh năm: 2006, hộ khẩu thường trú: 1/160 ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người giám hộ của bị hại: Ông Hồ Minh T5 và bà Trần Thị T6. có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/01/2023, khi Võ Thành L2 (sinh năm: 2004, hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) đang ngồi uống rượu cùng Hồ Khánh N (sinh năm: 2006, hộ khẩu thường trú: 1/160 ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) tại nhà của L2 thuộc ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, thì Lê Thanh T, Nguyễn Văn G, Cao Lê Hoài N1 và Quách Hữu T4 trên đường đi đá bóng về đã điều khiển mô tô chạy ngang qua nhà L2, thấy vậy L2, N chửi nhóm của T vì đã chạy xe rú ga (nẹt pô). T, N1 và G dừng lại trước cổng nhà L2, còn T4 chạy xe về nhà T. Lúc này, L2 từ trong nhà cầm thanh kim loại dài khoảng 50cm (là cán cây lau nhà) đi ra để đánh nhau với nhóm của T, nhìn thấy L2 cầm cây nên T, N1 và G cùng chạy xe về nhà của T để lấy hung khí quay lại đánh nhau với L2 và N. Sau đó T, N1 và G mỗi người cầm một con dao tự chế dài khoảng 40cm do T, N1 và G tự làm để sẵn tại nhà T, còn T4 không có hung khí nên đi tay không, rồi cả nhóm cùng chạy bộ đến nhà L2 để đánh nhau. Khi đến nơi, T bị L2 cầm một thanh kim loại, dài khoảng 50cm đánh T gây thương tích khuỷu tay trái và T dùng dao tự chế chém vào tay phải của L2 gây thương tích. Rồi L2 chạy vào trong sân và té ngã, T và N1 tiếp tục dùng dao tự chế chém L2, L2 đưa hai tay lên đỡ nên bị thương ở hai tay, sau đó L2 tiếp tục bỏ chạy vào trong nhà và T, N1 tiếp tục cầm dao đuổi theo. Lúc này Võ Thành D1 là anh ruột của L2 đang ở nhà sau, nghe tiếng Luân kêu cứu nên đã đi lên thì nhìn thấy T và N1 đang cầm dao, D1 bẻ lấy thanh kim loại của cây lau nhà và đưa cho L2, tuy nhiên do lúc này L2 bị mất nhiều máu nên không thể đánh nhau, thấy vậy T, N1 ra về.

Trong khi T và N1 cầm dao đuổi chém L2 thì G cũng cầm dao chạy vào sân nhà L2 và G bị Hồ Khánh N dùng gậy bóng chày đánh một cái vào đầu gây thương tích, sau đó N bỏ gậy bóng chày xuống đất và chạy về nhà của N cạnh nhà L2, G cầm dao tự chế đuổi theo, khi N chạy về đến nhà thì bị vấp ngã bên hiên nhà, lúc này G đuổi kịp và dùng dao chém N một cái, N đưa tay phải lên đỡ nên bị thương ở cẳng tay phải, sau đó G quay lại nhà L2. T4 cũng vào nhà L2, thấy cây gậy bóng chày do N bỏ lại nên T4 nhặt lên để đánh nhau, tuy nhiên lúc này T, N1 và G không đánh nhau nữa nên cả nhóm cùng đi về nhà T. Sau đó N1, G đưa dao tự chế và T4 đưa gậy bóng chày cho T cất giấu, rồi cả nhóm đã đi nhờ vỏ lãi một người quen của T tên là S1 (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) qua huyện G, tỉnh Tiền Giang. Đến sáng ngày 08/01/2023, cả nhóm đón xe đến xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và ở nhờ trong chòi của người tên Đ (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể), rồi cả nhóm cùng đi làm thuê và ở tại nhiều địa điểm khác nhau. Ngày 10/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định truy tìm đối với Lê Thanh T, Nguyễn Văn G, Cao Lê Hoài N1 và Quách Hữu T4. Đến ngày 20/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tìm được và mời T, N1, G và T4 về trụ sở làm việc.

Ngày 09/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Võ Thành L2 và Hồ Khánh N.

Kết luận giám định số 299/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 18/5/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế Thành phố H xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Khánh N như sau:

  • + Vết thương 1/3 giữa cẳng tay phải đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 2,6 x (0,3-0,5)cm.
  • Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định tỷ lệ về cố tật.
  • Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Khánh N tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm).

Kết luận giám định số 311/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 23/5/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế Thành phố H xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Thành L2 như sau:

Các kết quả chính:

  • - Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại:
  • + Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải kích thước 10,2 x 2cm (ảnh 1). Có tỷ lệ 03%.
  • + Mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải kích thước 8,8 x 0,8cm (ảnh 2). Có tỷ lệ 03%.
  • + Mặt trước vùng nếp khuỷu tay phải kích thước 7,1 x (0,5-0,7)cm (ảnh 3). Có tỷ lệ 03%.
  • + Mặt sau ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước 5,8 x (0,1-0,4)cm (ảnh 4). Có tỷ lệ 02%.
  • Vết thương bờ trụ cổ bàn tay trái gây đứt da, đứt gân gấp ngón V, đứt bó mạch thần kinh đã được điều trị khâu nối mạch máu, thần kinh, khâu gân da, hiện còn:
  • + Một sẹo kích thước 11,2 x (0,1-0,3)cm (ảnh 5)
  • + Hình ảnh tổn thương động mạch trụ và thần kinh trụ ngay dưới vị trí vết thương trên siêu âm.
  • + Tổn thương thần kinh trụ ngay dưới vị trí vết thương trên điện cơ đồ.
  • + Hạn chế khép các ngón, dấu bàn tay vuốt trụ (ảnh 6), khô da và giảm cảm giác bờ trụ bàn tay, ngón V và bờ trong ngón IV.
  • Có tỷ lệ 19%.

Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thành L2 tại thời điểm giám định là: 28% (hai mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Thương tích vùng cổ bàn tay trái gây nguy hiểm đến tính mạng, các thương tích còn lại thì không. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật.

Ngày 21/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành cho Lê Thanh T chỉ điểm nơi cất giấu các hung khí nhưng không tìm thấy để thu giữ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Ngoài ra trong quá trình đi làm thuê, đến ngày 21/02/2023 Lê Thanh T, Nguyễn Văn G và Cao Lê Hoài N1 đã có hành vi dùng dao đâm người khác gây thương tích tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Ngày 03/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Long An đã ra quyết định khởi tố vụ án, các quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Thanh T, Nguyễn Văn G, Cao Lê Hoài N1 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đến ngày 29/11/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định số 26 ngày 29/11/2023 về việc thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các bị can Lê Thanh T, Nguyễn Văn G, Cao Lê Hoài N1 từ tội: “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố các bị can Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

  • - Vật chứng thu giữ: Không có
  • - Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại Võ Thành L2 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Hồ Khánh N yêu cầu bồi thường chi phí điều trị với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Cáo trạng số 13/CT-VKS- HCG ngày 04/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố: Các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58, Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thanh T với mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Lê Hoài N1 với mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Quách Hữu T4 với mức án từ từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 23.000.000 đồng.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

[2.1] Vào khoảng 22 giờ ngày 07-01-2023, các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 đã sử dụng dao tự chế có chiều dài khoảng 40 -50 cm gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho bị hại Võ Thành L2 là 28% và bị hại Hồ Khánh N là 01%. Hành vi này của các bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định tội “Dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ” gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương từ 11% đến 30% quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự

[2.2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có quen biết với bị hại và có mâu thuẫn nhỏ thời gian trước đây, nguyên nhân chính là do bị hại có những lời lẽ không chuẩn mực, chửi các bị cáo khiến các bị cáo thiếu kiềm chế dẫn đến hành vi phạm tôi. Xét thấy, các bị cáo hoàn toàn có điều kiện để chọn lựa cách hành xử khác nhưng lại có hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại thể hiện hành vi có tính côn đồ. Các bị cáo sử dụng con dao tự chế dài khoảng 40 -50cm có cạnh sắc nhọn là hung khí trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại là hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[2.3] Thấy rằng, khi được bị cáo T đề nghị, rủ rê thì các bị cáo N1, G và T4 đồng ý cùng nhau gây thương tích, nên cùng nhau chuẩn bị, đem theo hung khí và cùng nhau đi đến nhà bị hại; giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, kế hoạch cụ thể; nên vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Xét thấy, tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời trình bày của bị hại; nên đủ cơ sở kết luận: Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏecủa người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địaphương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhậnthức được hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại là vi phạm pháp luật và sẽ bịtrừng trị nhưng các bị cáo vẫn cố ý gây thương tích cho bị hại nêncác bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo thấy rằng:

  • - Đối với bị cáo T là người cầm đầu, rủ rê, xúi giục các bị cáo N1, T4 và đặc biệt bị cáo G là người dưới 18 tuổi chưa thành niên cùng thực hiện hành vi tội phạm; bị cáo cũng là người tấn công bị hại đầu tiên, cường độ tấn công mạnh hơn các bị cáo khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính và mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo có nhân thân xấu từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về các hành vi trộm cắp và sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật nên cần phải xử nghiêm bị cáo để răn đe, phòng chống tội phạm chung.
  • - Đối với các bị cáo N1, G, T4 cùng bị cáo T đi đến nhà bị hại L2, bị cáo N1, G cùng tham gia tấn công, gây thương tích bị hại L2, N nên chịu trách nhiệm ngang nhau. Bị cáo T4 không trực tiếp tham gia gây thương tích cho bị hại nhưng biết rõ các đồng phạm đi thực hiện việc đánh nhau nhưng vẫn đi cùng đồng phạm với mục đích phụ giúp, đến nơi vẫn nhặt hung khí định tấn công bị hại nhưng được các bị cáo khác kêu ngừng lại nên ngừng do đó có vai trò thấp hơn các bị cáo khác nhưng vẫn trực tiếp tham gia cùng các bị cáo T, N1, G gây thương tích cho bị hại. Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo G là người chưa thành niên nên bị cáo G được áp dụng chế định đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương nên cần phải xử nghiêm các bị cáo để răn đe, phòng chống tội phạm và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tự cải tạo thành người công dân tốt.

[3.1] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T là người crủ rê và xúi giục bị cáo G là người chưa thành niên cùng thực hiện tội phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo N1, G. T4 không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 tự nguyện liên đới bồi thường cho bị hại Võ Thành L2 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và bị hại Hồ Khánh N số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Như vậy mỗi bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Võ Thành L2, bị hại Hồ Khánh N số tiền là 5.750.000 đồng.

[5] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1, Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thanh T 05 (năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Lê Hoài N1 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

1.3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

1.4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Quách Hữu T4 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2.Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ các Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Ghi nhận các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 tự nguyện liên đới bồi thường cho bị hại Võ Thành L2 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và bị hại Hồ Khánh N số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Như vậy mỗi bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Võ Thành L2, bị hại Hồ Khánh N số tiền là 5.750.000 đồng.

3. Về án phí:

3.1. Các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3.2. Các bị cáo Lê Thanh T, Cao Lê Hoài N1, Nguyễn Văn G và Quách Hữu T4 mỗi bị cáo phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí bồi thường.

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận :

  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - PV06 CA. TPHCM;
  • - VKSND huyện Cần Giờ;
  • - Công an huyện Cần Giờ;
  • - Nhà tạm giữ huyện Cần Giờ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ;
  • - UBND xã Long Hoà, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quỳnh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger