Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ – ST

Ngày 27/08/2024

V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Lương Anh

Các Hội thẩm nhân dân.

- Bà Đoàn Thị Thúy.

- Bà Hà Thị Thanh Liêm.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Bằng Phi – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2023/TLST – HNGĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐST – HNGĐ, ngày 06/07/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Lò Thị D, sinh năm 1981. Địa chỉ tại bản N, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966. Địa chỉ tại tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Bà Lò Thị D có mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Văn T vắng mặt có lý do (ông T đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T5 – Bộ C, địa chỉ tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, ý kiến tại biên bản lấy lời khai, ý kiến trình bày tại phiên tòa nguyên đơn bà Lò Thị D trình bày:

Bà D và ông T kết hôn với nhau vào ngày 21/01/2013 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên

Qua quá trình chung sống cả hai vợ chồng hòa thuận hạnh phúc một thời gian đến năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông T không tu chí làm ăn, chăm lo cho vợ con và gia đình và mắc vào tệ nạn xã hội sử dụng ma túy và phạm tội hình sự, ông T đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội phạm ma túy và hiện nay đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T5 – Bộ C. Trước đây khi ông T chưa phạm tội thì tôi đã khuyên giải ông T nhiều lần nhưng ông T không khắc phục được khuyết điểm của mình.

Mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã được gia đình hai bên nội ngoại, bạn bè và bản thân Bà D cố gắng khắc phục nhưng không thành. Đến nay Bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà kiên quyết xin được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Lò Hồng H, sinh ngày 25/10/2013. Bà D nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồng H tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay ông T đang phải đi chấp hành án nên không có điều kiện để nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông bà không có tài sản chung vì sau khi kết hôn thì vợ chồng ông bà về chung sống với gia đình nhà chồng ở tổ F, phường C, thành phố S được khoảng một thời gian, sau đó bà và con gái về sinh sống tại bản N, xã S, huyện Đ và trong quá trình sống chung với gia đình chồng thì Bà D có đóng góp gì vào khối tài sản chung của gia đình nhà chồng.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Bà D cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai, đơn đề nghị bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Về thời gian kết hôn và nơi kết hôn thì ông nhất trí như Bà D đã trình bày. Anh chị kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, quá trình chung sống anh chị vẫn hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên do ông không chăm lo được cho vợ con và đã phạm tội hình sự, bị Tòa án nhân dân xét xử và đang phải đi chấp hành phạt tù tại Trại giam T5, do đó ông nhất trí ly hôn Bà D.

Về con chung: Ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Lò Hồng H, sinh ngày 25/10/2013, ông T đề nghị Tòa án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã cung cấp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn; Giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc); Bản tự khai Bà D, ông T; Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú (bản sao); Căn cước công dân Bà D (bản sao); Giấy khai sinh cháu Hồng H (bản sao); Đơn xin không tiến hành hòa giải của Bà D; Đơn đề nghị về việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí của Bà D; Đơn xin xét xử vắng mặt của ông T.

Tài liệu do Tòa án thu thập gồm: Biên bản ghi ý kiến cháu Hồng H; Biên bản xác minh chính quyền bản N, xã S, huyện Đ và chính quyền tổ F, phường C, thành phố S; Biên bản việc tống đạt, công khai các tài liệu có trong hồ sơ cho ông Nguyễn Văn T.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Lò Thị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71, 72 và 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: áp dụng điều 51, điều 56, điều 57, điều 58; điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị D, đề nghị xử cho Bà D được ly hôn ông Nguyễn Văn T. Giao cháu Nguyễn Lò Hồng H cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chấp nhận ý kiến của Bà D về việc không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; Về nợ chung và tài sản riêng: Không có.

Về án phí: đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lò Thị D do Bà D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn, miền núi của tỉnh Điện Biên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Tòa án nhận định như sau:

  1. [1] Về thẩm quyền: Bà Lò Thị D và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định, bị đơn ông T có hộ khẩu, tại tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hiện bà D có đơn xin ly hôn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. [2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lò Thị D có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vì ông T hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T5 – Bộ C nên không hòa giải được và bà có yêu cầu không mong muốn hòa giải vợ chồng, căn cứ khoản 4 điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do đó đưa vụ án ra xét xử.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn T hiện đang Chấp hành án phạt tù tại Trại giam T5 – Bộ C, nên không thể có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa, phiên họp, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Trước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, để đảm bảo quyền được tiếp cận, công khai, kiểm tra chứng cứ, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La làm Công văn về việc đề nghị Trại giam T5 tống đạt, công khai các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho ông Thơm, ông T đã được tiếp cận, kiểm tra các tài liệu và không có ý kiến gì về các tài liệu đã được tiếp cận, kiểm tra.

  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: bà Lò Thị D và ông Nguyễn Văn T kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 21/01/2013 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông T, không tu trí làm ăn, không quan tâm tới gia đình, vợ con, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến nhau và phạm tội hình sự, phải đi chấp hành án phạt tù có thời hạn.

    Tại phiên tòa, Bà D kiên quyết xin ly hôn ông T vì không còn tình cảm vợ chồng, hơn nữa bà cũng đã tạo điều kiện cho ông T nhiều cơ hội để sửa chữa khuyết điểm nhưng không được, Bà D không chấp nhận đoàn tụ gia đình và đề nghị được ly hôn ông T.

    Xét thấy: Tòa án sau khi thụ lý hồ sơ về việc xin ly hôn đã động viên, khuyên giải Bà D để vợ chồng ông bà đoàn tụ vợ chồng, cùng nhau nuôi dạy con cái, tiếp tục cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng Bà D kiên quyết xin ly hôn. Theo bản tự khai của ông T có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông T cũng không còn tình cảm vợ chồng với Bà D, ông T nhất trí ly hôn.

    Nhận thấy mâu thuẫn của ông bà đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của Bà D, xử cho Bà D được ly hôn ông T.

  4. [4] Về con chung: ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Lò Hồng H, sinh ngày 25/10/2013. Bà D có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồng H đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

    Xét thấy: Bà D là người trưởng thành, có đủ năng lực hành vi dân sự, có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân và con cái, Bà D có thu nhập ổn định, thu nhập chủ yếu là đi làm thuê, chăn nuôi, trồng trọt. Còn ông T hiện đang đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam T5. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Hồng H cũng có nguyện vọng xin được ở với Bà D. Mặt khác cháu Hồng H còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ hơn do đó việc giao cháu Hồng H cho Bà D nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu nên cần giao cháu Hồng H cho Bà D tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, chấp nhận đề nghị của Bà D yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  5. [5] Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ cũng như ý kiến của Bà D tại phiên tòa, ý kiến của ông T trong bản tự khai thể hiện ông bà không có tài sản chung, sau khi kết hôn thì ông bà về chung sống với gia đình nhà chồng và cũng không có đóng góp gì vào khối tài sản chung của nhà chồng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. [6] Về tài sản riêng và nợ chung: Không có.

  7. [7] Về án phí: Do bà Lò Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn và miền núi của tỉnh Điện Biên, căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Bà D.

    Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho bà Lò Thị D được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

  2. Về con chung:

    • - Giao cháu Nguyễn Lò Hồng H, sinh ngày 25/10/2013 cho bà Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

    • - Ông Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này; không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về tài sản chung: Không có.

  4. Về tài sản riêng: Không có.

  5. Về nợ chung: Không có.

  6. Về án phí: Miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho bà Lò Thị D.

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 22 điều 70; điều 271; điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Nguyên đơn bà Lò Thị D quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/08/2024.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn T quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi gửi:

  • -TAND tỉnh Sơn La;
  • -VKSND thành phố Sơn La (2);
  • -UBND xã Sam Mứn, huyện Điện Biên,
  • tỉnh Điện Biên (nơi đăng ký kết hôn);
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS; AV;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Lương Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ – ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Thị Dẹn - Quàng Văn thơm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger