TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT Ngày 26 - 4 - 2024 V/v Tranh chấp xin ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc: Tranh chấp xin ly hôn.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 47/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lý Thanh N, sinh năm 2001; Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Lâm Văn N1, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người kháng cáo: Anh Lâm Văn N1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án chị Nguyễn Lý Thanh N trình bày: Chị và anh Lâm Văn N1 tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do có sự bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp nhau và không tự giải quyết được, nay chị yêu cầu ly hôn với anh N1.
Thời gian chung sống, chị và anh N1 có 02 con chung tên Lâm Tú V, sinh ngày 07/01/2020 và Lâm Tường V1, sinh ngày 23/01/2022 đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con chung, yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho hai con, mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi mỗi cháu thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra yêu cầu.
Đối với anh Lâm Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến phản hồi.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 47/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Lý Thanh N được ly hôn với anh Lâm Văn N1.
Về con chung: Chị Nguyễn Lý Thanh N nuôi con tên Lâm Tú V và Lâm Tường V1 đang ở với chị N.
Anh Lâm Văn N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con chung là Lâm Tú V và Lâm Tường V1 mỗi cháu 1.000.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi mỗi cháu thành niên.
Anh N1 có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị N.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/3/2024 anh Lâm Văn N1 kháng cáo với nội dung được nuôi hai cháu Lâm Tú V và Lâm Tường V1 không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Lâm Văn N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm anh Lâm Văn N1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo với lý do vợ anh đã có chồng khác, không trực tiếp nuôi con mà giao cho người khác nuôi con.
[2] Xét kháng cáo của anh Lâm Văn N1 thấy rằng: Chị N và anh N1 có 02 con chung, sau khi ly hôn chị N yêu cầu nuôi 02 con chung hiện đang ở cùng chị N, anh N1 kháng cáo cho rằng hiện 02 con đang sống cùng với anh N1. Diễn biến tại phiên toà chị N cho rằng anh N1 mới đưa con về nhà chơi trước ngày xử hôm nay là 01 ngày, anh N1 thừa nhận, như vậy lời trình bày của anh N1 là các con sống chung với anh N1 là không có căn cứ. Xét về kinh tế thì giữa anh N1 và chị N đều ngang nhau và cũng không ai chứng minh nguồn thu nhập thực tế của mình. Tại phiên toà anh N1 đề nghị chị N nghỉ việc về gia đình chị N sống để chăm sóc, nuôi con thì anh N1 thống nhất giao con cho chị N, chị N cũng thống nhất là chị sẽ về gia đình chị sống bằng nghề may và chăm sóc con, tuy nhiên đến phần tranh luận anh N1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị được nuôi con, nếu không giao 02 cháu cho anh thì anh vẫn thống nhất xin được nuôi một cháu, chị N không thống nhất tách rời hai cháu.
Xét hiện hai con của anh N1 và chị N còn nhỏ, cháu lớn 05 tuổi, cháu nhỏ 03 tuổi, lại là nữ giới nên xét về điều kiện chăm sóc, giáo dục, dạy dỗ con tạo điều kiện thuận lợi về mặt tinh thần cũng như phát triển thể chất cho các cháu thì chị N thuận tiện hơn. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Lâm Văn N1.
[3] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Lâm Văn N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như phân tích trên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp được chấp nhận.
[4] Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Lâm Văn N1 phải chịu là 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Lâm Văn N1. Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 47/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về nuôi con chung: Giao con chung Lâm Tú V sinh ngày 07/01/2020 và Lâm Tường V1 sinh ngày 23/01/2022 cho chị Nguyễn Lý Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Lâm Văn N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con chung là Lâm Tú V và Lâm Tường V1 mỗi cháu 1.000.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi mỗi cháu thành niên (Đủ 18 tuổi).
Kể từ khi chị Nguyễn Lý Thanh N có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Lâm Văn N1 chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh N1 còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Anh Lâm Văn N1 có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Nguyễn Lý Thanh N.
Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Nguyễn Lý Thanh N phải chịu 300.000 đồng, chị N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004090 ngày 16/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Lâm Văn N1 phải chịu 300.000 đồng.
Án phí phúc thẩm: Buộc anh Lâm Văn N1 phải chịu là 300.000 đồng, đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004687 ngày 14/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
