TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 14/2024/DS-ST
Ngày: 26/4/2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thơi
- Ông Lê Hoàng Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Mạch Văn Hiểu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 246/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2024/QĐST – DS ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lưu Văn P, sinh năm: 1968 (có mặt)
Địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lưu Văn P (gọi tắt là ông P) trình bày:
Do là chỗ quen biết nên ông Lưu Văn P có cho ông Nguyễn Văn H mượn tiền nhiều lần cụ thể:
Vào ngày 26/9/2022 (dl) ông H mượn số tiền 400.000.000 đồng, ông H nói mượn khoảng 5 ngày để đáo hạn nợ ngân hàng X vay lại rồi trả lại nên hai bên không thỏa thuận lãi suất.
Trong khoảng thời gian từ ngày 23/8/2023 đến 01/11/2023 ông H có nhờ ông P vay tiền dùm nhiều lần tổng số tiền là 324.500.000 đồng, lãi suất 3%, ông H nói vay vài ngày trả lại, khi vay không làm biên nhận, nhưng mỗi lần ông P đưa tiền cho ông H thì ông P chuyển khoản bằng tài khoản ngân hàng từ tài khoản của ông P là 7002205015224 sang tài khoản của ông Nguyễn Văn H là 7002205276452, mỗi lần chuyển khoảng thì ông P có nhắn tin để yêu cầu trả phần nợ củ, nhưng từ khi mượn tiền vào năm 2022 và vay tiền vào năm 2023 đến nay thì ông H không đóng lãi cũng như trả vốn cho ông P. Ông P đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông H trả tiền cho ông P nhưng ông H cứ hẹn mà không thực hiện.
Nay ông P làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H trả cho ông P số tiền đã mượn và vay tổng cộng là 724.500.000 đồng và lãi suất theo quy định từ ngày vay đến nay theo quy định.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H trong quá trình giải quyết vụ án Toà án có tiến hành triệu tập hợp lệ ông H để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông H không đến dự nên Toà án không ghi nhận được lời trình bày của ông H đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Ông Lưu Văn P yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn H, do ông P không sao kê được tất cả các chứng từ giao dịch chuyển khoản tiền cho ông H, nên ông P chỉ yêu cầu ông H trả lại số tiền còn nợ là 724.500.000 đồng, ông P không yêu cầu tính lãi.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý của đương sự, gửi hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia phiên tòa đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử, thư ký ghi biên bản phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện số tiền ông P giao dịch chuyển khoản cho ông H từ ngày 23/8/2023 đến 01/11/2023 với số tiền là 298.400.000 đồng và 400.000.000 đồng mượn vào năm 2022, nên tổng cộng là 698.400.000 đồng. Nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn P đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H. Buộc ông H có nghĩa vụ trả cho ông P số tiền 698.400.000 đồng, ông P không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Về án phí: Buộc các đương sự nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lưu Văn P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn H trả lại số tiền vay còn nợ là 724.500.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự - vay tài sản” được Bộ luật dân sự điều chỉnh. Bị đơn ông Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Toà án triệu tập để tham gia phiên toà xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Do đó, căn cứ theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn P và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện ông P có cung cấp cho Tòa án Sổ phụ tại Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã L (gọi tắt là Ngân hàng N) và các chứng từ giao dịch của Ngân hàng N thể hiện thông tin giao dịch chuyển khoản từ số tài khoản 7002205015224 tên ông Lưu Văn P cho người nhận là ông Nguyễn Văn H, số tài khoản 7002205276452. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Văn H nhiều lần để có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các chứng từ chuyển khoản do ông P cung cấp nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tuy ông H vắng mặt, nhưng tại biên bản làm việc ngày 05/01/2024 của Toà án đối với bà Nguyễn Thị P1 là mẹ ruột của ông Nguyễn Văn H xác định, con bà là Nguyễn Văn H có hỏi mượn tiền của ông Lưu Văn P nhiều lần, có lần 400.000.000 đồng, có lần 30.000.000 đồng, có lần 25.000.000 đồng, có lần 5.000.000 đồng và những lần khác nhưng bà P1 không biết rõ. Điều đó cho thấy, ông Nguyễn Văn H có hỏi mượn và vay tiền của ông Lưu Văn P là có thật và lời khai của bà P1 và các chứng từ giao dịch chuyển khoản từ Ngân hàng N do ông P cung cấp là chứng cứ để giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy, ông H đã vay tiền của ông P nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông P là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp của ông P, do đó ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm trả cho ông P số tiền còn nợ là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, qua xem xét các chứng từ giao dịch chuyển khoản của Ngân hàng N thể hiện ngoài số tiền 400.000.000 đồng, ông H đã mượn trước đó thì các lần ông P chuyển khoản từ số tài khoản 7002205015224 của ông P cho số tài khoản 7002205276452 của ông H từ ngày 23/8/2023 tính đến ngày cuối là 01/11/2023 thì số tiền là 298.400.000 đồng. Như vậy, số tiền ông H còn nợ ông P được tổng cộng là 698.400.000 đồng. Ngoài các chứng từ giao dịch nêu trên, thì ông P không cung cấp cho Toà án tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh ông P đã chuyển cho ông H số tiền 724.500.000 đồng. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, hội đồng xét xử chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông P đối với ông H, buộc ông H trả cho ông P số tiền 698.400.000 đồng theo các chứng từ giao dịch mà ông P cung cấp được trong hồ sơ vụ án.
- Về lãi suất: Tại phiên toà, nguyên đơn ông Lưu Văn P không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Từ những phân tích trên xét thấy đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên toà là có cơ sở được hội đồng xét xử chấp nhận.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc nguyên đơn ông Lưu Văn P có nghĩa vụ nộp 5% án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền không được chấp nhận là 26.100.000 đồng là 1.305.000 đồng (một triệu ba trăm lẻ năm ngàn đồng). Ông P được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên tổng giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ là 698.400.000 đồng, theo quy định án phí được tính là: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng. Như vậy, ông H phải chịu án phí là 20.000.000 đồng + (4% x 298.400.000 đồng) = 31.936.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 463 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn P đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu trả lại tiền đã vay.
- Buộc ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Lưu Văn P số tiền 698.400.000 đồng (sáu trăm chín mươi tám triệu bốn trăm).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc nguyên đơn ông Lưu Văn P có nghĩa vụ nộp án phí với số tiền là 1.305.000 đồng (một triệu ba trăm lẻ năm ngàn đồng), ông Lưu Văn P được khấu trừ lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.490.000 đồng (mười sáu triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng) theo lai thu số 0009851 phiếu lập ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Như vậy, ông Lưu Văn P còn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 15.185.000 đồng (mười lăm triệu một trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ nộp án phí với số tiền là 31.936.000 đồng (ba mươi mốt triệu chín trăm ba mươi sáu đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/4/2024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | |
Nguyễn Văn Thơi | Lê Hoàng Thái |
Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 14/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông p yêu cầu ông h trả tiền vay
