|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 26-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đích
Ông Hà Đồng Tịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Duy P, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1985 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: K D, tổ E, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn H, sinh năm: 1961 còn sống và bà Lê Thị Thu L, sinh năm: 1963 còn sống. Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị P1, sinh năm: 1990 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không:
Nhân thân: Ngày 12/11/2024, Nguyễn Duy P bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và xử phạt 01 năm tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội mà bị cáo phải chấp hành là 02 năm tù. Bị cáo hiện đang chấp hành theo Quyết định thi hành án phạt tù số 182/2024 ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tại Nhà tạm giữ Công an quận N sơn kể từ ngày 29/6/2024. (Có mặt tại phiên toà)
- Hồ Nhật H1, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1996 tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 07/02/2022; Nghề nghiệp: LĐPT (Sửa xe); Trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quang C, sinh năm: 1967 còn sống và bà Đinh Thị H2, sinh năm: 1968 còn sống. Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ 3; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 12/11/2024, bị cáo bị Tòa án nhân quận Ngũ Hành S xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Bị cáo đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ công an quận S từ ngày 20/12/2024 (Có mặt tại phiên toà)
- Người bị hại: Bà Đinh Thị Huyền T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên toà)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Minh Q, sinh năm 1971. Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2024, sau khi hiến máu tại trường tiểu học C1, số E đường L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường A), Nguyễn Duy P đi đến khu vực sân trường thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 của chị Đinh Thị Huyền T (sinh năm: 1993, trú: tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) có sẵn chìa khoá và không có ai trông coi nên Nguyễn Duy P đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên. Nguyễn Duy P nổ máy xe và chạy về nhà của Hồ Nhật H1 tại địa chỉ: xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để bán cho Hồ Nhật H1. H1 biết rõ xe mô tô Airblade, BKS 92N1-164.10 là tài sản do P trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng), số tiền bán xe BKS 92N1-164.10 Phương đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 10 ngày, sau khi mua xe BKS 92N1-164.10 của P (H1 không nhớ thời gian cụ thể), H1 vào hội nhóm trên mạng xã hội Facebook có tên: “Hội mua bán xe máy cũ Đà Nẵng (bán nhanh nhất)” và thấy bài đăng có nội dung: “Cần mua xe AB kgt dưới 5 triệu” nên H1 vào để lại thông tin có xe cần bán (H1 không nhớ tên người đăng) thì người đó liên lạc với H1 và hai bên thoả thuận giá xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 có giá là 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm ngàn đồng). Hai bên giao dịch mua bán xe BKS 92N1-164.10 tại đường Q, đoạn trước cổng trường THCS Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Số tiền bán xe H1 đã tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 hiện không thu hồi được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S kết luận: 01 xe mô tô Honda nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 có giá trị: 15.900.000 đồng. (Mười lăm triệu chín trăm ngàn đồng)
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và truy tố bị cáo Hồ Nhật H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo Hồ Nhật H1 không nhận tội, nhưng thừa nhận là có biết xe mô tô Airblade, BKS 92N1-164.10 không rõ nguồn gốc, không có giấy tờ nhưng bị cáo mua với giá 2.500.000 đồng và sau 10 ngày thì bị cáo bán lại với số tiền 3.200.000 đồng và bị cáo cũng thừa nhận tiền chênh lệch bán xe 700 ngàn đồng đó là tiền không hợp pháp, thu lợi bất chính, bị cáo đồng ý nộp để sung ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về TNHS:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P từ 12 đến 15 tháng tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Nhật H1 từ 12 đến 15 tháng tù.
*Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 700.000 đồng mà bị cáo H1 thu lợi bất chính từ tiền chênh lệch bán xe.
* Phần bồi thường dân sự:
Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Duy P phải bồi thường số tiền 15.900.000 đồng tương đương với giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 cho chị Đinh Thị Huyền T. (BL151-152).
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 09 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2024, tại trường tiểu học C1, số E đường L, phường A (nay là phường A), quận S, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Duy P có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 trị giá 15.900.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm ngàn đồng) của chị Đinh Thị Huyền T
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Đối với bị cáo Hồ Nhật H1: Cùng ngày 25 tháng 5 năm 2024, P bán cho Hồ Nhật H1 chiếc xe trên với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Tại phiên tòa bị cáo Hồ Nhật H1 không đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên căn cứ lời khai của bị cáo P tại bút lục số 81, 85: ...“Khi bán xe cho H1 thì H1 có hỏi tôi về nguồn gốc xe. Tôi nói với H1 là không giấy tờ, bán giá rẽ có mua không và H1 đồng ý mua...” và tại lời khai của H1 tại bút lục số 21: ...“Tôi biết những chiếc xe trên là tài sản bất minh, do trộm cắp mà có, trong đó có xe đang còn mới, không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc, việc mua bán chỉ bằng lời nói chứ không làm giấy tờ mua bán, bán xe với giá rẻ nên tôi đồng ý mua...”, tại lời khai của H1 tại bút lục số 125, 126 ... “Tôi nhận thức được việc mua bán xe máy là phải có giấy tờ chứng minh nguồn gốc sở hữu (giấy chứng nhận đăng ký xe) và giấy tờ mua bán xe...” “Tôi làm nghề sửa xe máy nên tôi biết được giá trị thực tế của chiếc xe máy trên tại thời điểm đó là trên 10 triệu đồng” ... “Tôi nhận thức được việc mua bán xe máy Honda Airblade không giấy tờ, giá rẻ trên là sai, vi phạm pháp luật... “Do tôi ham rẻ nên vẫn mua xe máy Honda Airblade mặc dù biết việc mua bán xe trên là sai, vi phạm pháp luật...”... “Tôi nhận thức được khi mua bán xe máy mà người bán không giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu thì việc bán xe là vi phạm pháp luật, trái quy định...”. Tại phiên toà bị cáo H1 không nhận tội nhưng H1 thừa nhận H1 nhận thức được hành vi H1 mua xe là vi phạm pháp luật. HĐXX căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời khai của các bị cáo khẳng định: H1 nhận thức được chiếc xe trên do P trộm cắp mà có, nhưng ham rẻ nên vẫn đồng ý mua hành vi của H1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Duy P đã lợi dụng lúc chị Đinh Thị Huyền T sơ hở trong việc quản lý tài sản của mình nên bị cáo đã lén lút lấy của chị Đinh Thị Huyền T 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 trị giá 15.900.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm ngàn đồng). Hành vi này thể hiện bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Đối với bị cáo Hồ Nhật H1 nhận thức được chiếc xe trên do bị cáo Nguyễn Duy P trộm cắp mà có, nhưng ham rẻ nên vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) nên bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Sau đó Hoàng bán lại chiếc xe cho một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 3.200.000 đồng, H1 thu lợi bất chính 700.000 đồng.
Nhân thân của bị cáo P: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/ HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và xử phạt 01 năm tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
Nhân thân của bị cáo H1: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/ HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo Hồ Nhật H1 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy P thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hồ Nhật H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Do bị cáo không thành khẩn khai báo nên không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo.
[4] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Nguyễn Duy P: Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. HĐXX xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Hồ Nhật H1: Căn cứ khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. HĐXX xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 do ông Huỳnh Minh Q (sinh năm: 1971, trú: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam) đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4 năm 2024, ông Q giao xe BKS 92N1-164.10 cho chị Đinh Thị Huyền T ( là con dâu của ông Q) mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, chiếc xe này hiện không thu hồi được.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 700.000 đồng bị cáo H1 thu lợi bất chính từ tiền chênh lệch bán xe.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thị Huyền T yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy P bồi thường số tiền 15.900.000 đồng tương đương với giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 bị mất trộm. Căn cứ các điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015 HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Huyền T, buộc bị cáo Nguyễn Duy P phải có nghĩa vụ trả cho chị Đinh Thị Huyền T số tiền 15.900.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm ngàn đồng)
[7] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với Ông Huỳnh Minh Q đứng tên chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10. Tháng 4 năm 2024, ông Q giao xe BKS 92N1-164.10 cho chị Đinh Thị Huyền T ( là con dâu của ông Q) mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, hiện nay chiếc xe không thu hồi được.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy P 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù.
Căn cứ Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án ( bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/ HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và xử phạt 01 năm tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS) và bản án này. Tổng hình phạt 02 bản án là: 03 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 29/6/2024).
-
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Nhật H1 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Nhật H1 09 (Chín) tháng tù. Căn cứ Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án ( bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/ HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo Hồ Nhật H1 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS) và bản án này. Tổng hình phạt 02 bản án là: 01 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20/12/2024).
-
Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 92N1-164.10 do ông Huỳnh Minh Q (sinh năm: 1971, trú: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam) đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4 năm 2024, ông Q giao xe BKS 92N1-164.10 cho chị Đinh Thị Huyền T ( là con dâu của ông Q) mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, chiếc xe này hiện không thu hồi được nên hội đồng xét xử không đề cập đến.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 700.000 đồng bị cáo H1 thu lợi bất chính từ tiền chênh lệch bán xe.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Duy P phải có nghĩa vụ trả cho chị Đinh Thị Huyền T số tiền 15.900.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm ngàn đồng)
-
Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Duy P phải chịu 795.000 đồng (Bảy trăm chín mươi lăm ngàn) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
8
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Duy Phương phạm tội Trộm cắp tài sản và bị cáo Hồ Nhật Hoàng phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
