Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢN BẠ

TỈNH HÀ GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-9-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Đình Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lục Thị Cương;

Ông Lệnh Xuân Chính;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lan Hương - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Giàng Mí H, sinh năm:1992

Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Ly Thị P, sinh năm 1995;

Địa chỉ nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Giàng Mí H trình bày: Anh và chị Ly Thị P quen nhau, tự nguyện tìm hiểu nhau từ năm 2014, đến tháng 02 năm 2015 tiến đến hôn nhân, được hai gia đình đồng ý nhưng không tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương do hoàn cảnh khó khăn, chị P về chung sống cùng gia đình anh H tại thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang từ tháng 2 năm 2015. Ngày 27/4/2016 anh và chị P tự nguyện đến Ủy ban nhân dân xã C đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống hạnh phúc bên nhau, trong thời gian chung sống có xảy ra những mâu thuẫn nhỏ như cãi, chửi nhau. Đến tháng 01 năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không

tự hòa giải được khiến cho mâu thuẫn ngày một trầm trọng, ngày 25/5/2019 chị P đã tự ý bỏ nhà đi cho đến nay, anh H đã đi tìm nhiều lần ở nhiều nơi như ở gia đình nhà bố mẹ vợ, bạn bè thân quen nhưng không thấy, không biết hiện nay ở đâu. Anh H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị P mất tích để giải quyết việc ly hôn, ngày 26/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định số 03/2024/QĐST-DS tuyên bố chị Ly Thị P mất tích. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Ly Thị P.

Về con chung: Anh H và chị P có 01 con chung tên là Giàng Mí B, sinh ngày 26/5/2016. Hiện nay cháu B đang sinh sống cùng anh. Anh H đề nghị sau khi ly hôn anh H sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Ly Thị P, vắng mặt, ngày 26/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định số 03/2024/QĐST-DS tuyên bố chị Ly Thị P mất tích, đến nay chị P không có mặt tại nơi cư trú, cũng không có tin tức gì về chị P.

Tại phiên tòa, anh Giàng Mí H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ:

Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa và tại phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho anh H ly hôn với chị P; giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Giàng Mí B; miễn án phí sơ thẩm cho anh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Ly Thị P đã được Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ tuyên bố mất tích bằng Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2024/QĐST-DS ngày 26/3/2024 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích nên thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự, mặt khác Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, nhận thấy tại phiên tòa vắng mặt bị đơn không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Anh Giàng Mí H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Ly Thị P, có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang, và vụ án tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Giàng Mí H và chị Ly Thị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh H và chị P là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2019 thì chị P bỏ nhà đi biệt tích từ đó đến nay không có tin tức gì. Anh H đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị P mất tích. Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã thực hiện niêm yết công khai và thông báo tìm kiếm chị P nhưng không có kết quả, không có thông tin gì về chị P. Ngày 26/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ đã ra quyết định tuyên bố chị Ly Thị P mất tích, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, cuộc sống chung giữa anh H và chị P không còn tồn tại, anh H yêu cầu xin ly hôn với chị P là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H, cho anh H được ly hôn với chị Ly Thị P.

[4] Về con chung: Anh H và chị P có 01 con chung tên là Giàng Mí B, sinh ngày 26/5/2016. Hiện nay cháu B đang sinh sống cùng anh. Anh H đề nghị sau khi ly hôn anh H sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị Ly Thị P biệt tích từ năm 2019 cho đến nay, đến nay không có tin tức xác thực về chị P, nên không giao trách nhiệm nuôi con hay cấp dưỡng nuôi con cho chị P được. Từ khi chị P biệt tích, anh H đã làm tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Vì vậy, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng Mí B là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị P không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản, công nợ chung: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn anh H thuộc hộ nghèo được chính quyền nơi cư trú xác nhận và có đơn đề nghị miễn nộp án phí, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là người dân tộc thiểu số. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nên Hội đồng xét xử xét thấy anh H được miễn toàn bộ án phí theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh Giàng Mí H.

Xử cho anh Giàng Mí H được ly hôn với chị Ly Thị P.

2. Về con chung: Giao cho anh Giàng Mí H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng Mí B, sinh ngày 26/5/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ly Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho anh Giàng Mí H.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai cho anh Giàng Mí H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Ly Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.Quản Bạ (2);
  • - UBND xã C;
  • - UBND Tỉnh Hà Giang;
  • - Chi cục THADS H.Quản Bạ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Đình Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh Giàng Mí H. Xử cho anh Giàng Mí H được ly hôn với chị Ly Thị P.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger