|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Ngô Sỹ Lượng.
- Ông Hồ Văn Hào.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 13/2023/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1995.
Nơi ĐKHKTT: Khối Chế Biến L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (có mặt).
Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1995.
Trú tại: Khối Chế Biến L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 07/6/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị L thống nhất trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Ngọc H kết hôn với nhau vào ngày 23 tháng 02 năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H không chăm lo cuộc sống trong gia đình, thường xuyên đi khỏi địa phương do đó hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Ngọc H.
- Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Hoàng Ngọc Anh T, sinh ngày 04/11/2016 và Hoàng Ngọc Anh K, sinh ngày 26/10/2018, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.
Nay nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của vợ chồng đến lúc con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện tại chị đang làm công nhân may mặc. Về thu nhập bình quân của chị từ 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) đến 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) và điều kiện ăn ở sinh hoạt đảm bảo các điệu kiện tốt nhất để trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng.
Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Hoàng Ngọc H: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh H. Tuy nhiên anh H đều vắng mặt, không lên Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án mà không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Hoàng Ngọc H.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Ngô Thị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị L và anh H đến lúc con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ngô Thị L không yêu cầu anh Hoàng Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị Ngô Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Ngô Thị L phải chịu toàn bộ án phí LHST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Hoàng Ngọc H đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối Chế Biến L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà.
Bị đơn anh Hoàng Ngọc H đã được Toà án triệu tập phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nôi dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L và anh Hoàng Ngọc H đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 02 năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị L và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị L, anh H là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị L nguyên nhân mẫu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H không chăm lo cuộc sống trong gia đình, thường xuyên đi khỏi địa phương, do đó vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Sau khi thị lý vụ án Toà án đã triệu tập, thông báo hợp lệ cho anh H để giải quyết vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh H không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Mặt khác tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H tại địa phương xác định chị L và anh H hiện đã sống ly thân. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã trầm trọng mà không thể hàn gắn được.
Xét mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị L được ly hôn với anh H như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là có căn cứ.
2.2. Về nuôi con chung: Chị L và anh H có hai con chung là Hoàng Ngọc Anh T, sinh ngày 04/11/2016 và Hoàng Ngọc Anh K, sinh ngày 26/10/2018, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.
Xét chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung của chị L và anh H và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị L hiện đang làm công nhân may mặc, thu nhập bình quân của chị L từ 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) đến 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) và điều kiện ăn ở sinh hoạt đảm bảo các điệu kiện tốt nhất để trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng. Mặt khác sau khi chị L anh H sống ly thân thì chị L đang là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của vợ chồng. Quá trình Tòa án xác minh tại địa phương xác định được trong quá trình chung sống chị L, anh H đều không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh H đều vắng mặt không có lý do. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho hai con chung của chị L và anh H được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi chị L, anh H ly hôn, cần giao hai con chung của chị L, anh H cho chị L được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là phù hợp.
Chị L không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về chia tài sản: Chị Ngô Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[3] Về án phí: Buộc chị Ngô Thị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Hoàng Ngọc H.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cho chị Ngô Thị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị L và anh H là Hoàng Ngọc Anh T, sinh ngày 04/11/2016 và Hoàng Ngọc Anh K, sinh ngày 26/10/2018, đến lúc con chung trưởng thành.
2.2. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Anh Hoàng Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2.4. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: Chị Ngô Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008847 ngày 20/6/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An (chị L đã nộp đủ tiền án phí).
Trường hợp Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |
Bản án số 14/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 14/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
