Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số : 14/2024/HSST

Ngày 25/4/2024

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T
  • - Các hội thẩm nhân dân :
    1. Ông Trần Văn V;
    2. Ông Nguyễn Tiến D.
  • - Th ký toà án ghi biên bản phiên toà : Bà Phùng Thị Hoàng Q - Cán bộ T1 án nhân dân thị xã P .
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên toà: Bà Phan Tường L - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/HSST ngày 21/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/11/1998. Nơi ĐKHKTT: khu C, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: không xác định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 5/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Đoàn thể: không. Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; Con bà: Hà Thị T2 (đã chết). Vợ, con: không; Tiền án: có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10 ngày 18/3/2022, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt P 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày P bị bắt tạm giữ là ngày 08/10/2021. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2023; hiện P chưa chấp hành xong khoản tiền 500.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 99/2016/HSST ngày 10/6/2016 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn P 26 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Buộc P phải chấp hành các khoản: án phí HSST 200.000 đồng; bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 8.652.200 đồng và người đại diện hợp pháp của P phải nộp 433.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do P có kháng cáo nên ngày 13/9/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm, tại bản án HSPT số 937/2016/HSPT không chấp nhận kháng cáo của P: Giữ nguyên bản án HSST số 99 ngày 10/6/2016 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và buộc P phải nộp 200.000 đồng án phí HSPT.

Kết quả xác minh thi hành án: Đối với hình phạt tù, P đã chấp hành xong ngày 24/4/2019. Đối với các khoản nộp án phí HSST: 200.000 đồng và án phí HSPT 200.000 đồng, P nộp ngày 01/6/2017, án phí dân sự sơ thẩm 433.000 đồng do bố đẻ của P là Nguyễn Văn B nộp ngày 04/6/2018. Đối với khoản bồi thường cho các bị hại là 8.652.200 đồng gồm: anh Lê Đình T3 336.000 đồng, bà Đỗ Thị Kim O 533.300 đồng, chị Hà Thị D1 400.000 đồng, anh Nguyễn Bùi Y 2.855.000 đồng, chị Nguyễn Thị C 1.333.300 đồng, anh Trịnh Mạnh H 4.350.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thu H1 3.333.300 đồng và anh Lê Thành K 5.511.300 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bị hại trên đều không có đơn yêu cầu thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông không thụ lý giải quyết. Tại thời điểm giải quyết vụ án này, các bị hại trên đều không yêu cầu P phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào. Lần phạm tội này của P thuộc trường hợp nghiêm trọng, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án, P là người dưới 18 tuổi nên căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 107 BLHS thì P được coi là không có án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/02/2024 đến ngày 05/3/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P. Hôm nay có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa: Bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có đơn xin xử vắng mặt)

Người bị hại: Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1994.

Trú tại : Khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 03 giờ sáng ngày 26/10/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Văn P, sinh năm 1998, trú tại khu C, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đi bộ một mình từ xã T đến phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, với mục đích tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1994, trú tại khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; P quan sát xung quanh không có ai, còn nhà anh C1 tắt điện; P đi đến vị trí cửa nhà dùng tay kéo cánh cửa thì thấy then cửa cài phía trong bị rơi ra. P đi vào phòng ngủ phía bên tay trái theo hướng đi từ cửa, đèn ngủ bật sáng, hai vợ chồng anh C1 cùng con đang ngủ trên giường, tại nóc tủ nhựa ở đầu giường có 03 chiếc điện thoại di động, 01 chiếc túi sách tay, kiểm tra bên trong có tiền và một số loại giấy tờ khác. P bỏ các loại giấy tờ ra để ở đầu giường và đúc 03 chiếc điện thoại vào trong túi cùng số tiền rồi cầm theo quay ra phòng khách thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xám đen, biển số 19G1-219.99, cắm sẵn chìa khoá. P treo túi đựng tiền và điện thoại lên tay lái và dắt xe mô tô ra đường, mở khoá điện nổ máy rồi điều khiển xe để đi về nhà. Tuy nhiên, do lo sợ trộm cắp nhiều tài sản có giá trị, nên P điều khiển xe quay lại khu vực trước cửa quán K1 thuộc khu T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, mở túi sách kiểm tra thấy có 7.800.000 đồng; P chỉ lấy 5.000.000 đồng và bỏ lại chiếc xe Airblade, biển số 19G1-219.99, vẫn cắm chìa khoá cùng với chiếc túi sách bên trong có 03 chiếc điện thoại và 2.800.000 đồng, rồi đi bộ về nhà. Ngày 02/11/2023, P bỏ trốn sang Campuchia và sử dụng toàn bộ số tiền trộm cắp được làm chi phí đi lại, chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 05 giờ 20 phút ngày 26/10/2023, anh Nguyễn Văn C1 ngủ dậy phát hiện bị kẻ gian trộm cắp tài sản nên đã đi tìm thì phát hiện chiếc xe mô tô đang dựng ở lề đường trước cửa quán K1 thuộc khu T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, trên tay lái xe có treo chiếc túi sách. Anh C1 đã trình báo sự việc đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thị xã P điều tra, làm rõ và xử lý đối tượng trộm cắp tài sản theo quy định pháp luật, đồng thời giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ) đều đã qua sử dụng và 2.800.000 đồng.

Ngày 07/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã P định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô, 03 chiếc điện thoại di động và chiếc túi sách của gia đình anh Nguyễn Văn C1 bị trộm cắp nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thị xã P kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99, trị giá 16.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X, trị giá 6.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max, trị giá 8.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s, trị giá 2.000.000 đồng và 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ), trị giá 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản anh gia đình Nguyễn Văn C1 bị trộm cắp ngày 26/10/2023 là 40.000.000 đồng.

Căn cứ tài liệu thu thập được, ngày 14/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Đến ngày 28/02/2024, Nguyễn Văn P đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh Nguyễn Văn C1 như trên. Tự nguyện giao nộp: 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, loại cổ tròn, ở tay áo phía bên phải có hoạ tiết hình con cá màu đỏ và đen; 01 chiếc quần cộc màu đỏ mận, bên trên quần có nhiều hoạ tiết khác nhau; 01 chiếc ba lo bằng vải màu đen, trên balo có chữ “PLAY HARD” là trang phục mà P mặc, sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh C1 ngày 26/10/2023. Ngày 04/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Kết quả điều tra xác định Nguyễn Văn P không có việc làm ổn định, thường xuyên đi lang thang không có nơi cư trú rõ ràng, cố định, và có dấu hiệu bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Nguyễn Văn P theo quy định.

Đối với nội dung P khai báo sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, P đã bỏ trốn sang campuchia, ngoài lời khai của P, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không thu thập được thêm tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có cơ sở tổ chức xác minh.

Về vật chứng, tài sản, đồ vật tạm giữ gồm: Ngày 14/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 là chủ sở hữu hợp pháp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ) đều đã qua sử dụng và số tiền 2.800.000 đồng. Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, loại cổ tròn, ở tay áo phía bên phải có hoạ tiết hình con cá màu đỏ và đen; 01 chiếc quần cộc màu đỏ mận, bên trên quần có nhiều hoạ tiết khác nhau; 01 chiếc ba lô bằng vải màu đen, trên balo có chữ “PLAY HARD” của Nguyễn Văn P, đã được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã P theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Anh C1 yêu cầu P phải hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng, ngoài ra, anh C1 không yêu cầu đề nghị, bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTB ngày 18/3/2024 của VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai nhận hành vi: Khoảng 03 giờ sáng ngày 30/10/2023, tại nhà anh Nguyễn Văn C1 thuộc khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh C1, P đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh C1, có tổng giá trị là 40.000.000 đồng, gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99, trị giá 16.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X trị giá 6.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max, trị giá 8.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s, trị giá 2.000.000 đồng; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ), trị giá 200.000 đồng và 7.800.000 đồng. Các tài sản gồm: 01 mô tô, 03 chiếc điện thoại, 01 chiếc túi sách và 2.800.000 đồng, P để lại ven đường, trước cửa quán K1 thuộc khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, còn 5.000.000 đồng P đã chi tiêu cá nhân hết trên đường bỏ trốn sang Campuchia, chưa hoàn trả lại được cho anh C1. Bị cáo không có lời tranh luận, bào chữa nào khác.

Người bào chữa cho bị cáo là bà Bùi Thị Thanh N vắng mặt nhưng có bài bào chữa thừa nhận bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn P mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 28/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 điều 47 BLHS, khoản 1 điều 48, điểm c, khoản 2, điểm a, khoản 3 điều 106 BLTTHS: Xác nhận ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ) đều đã qua sử dụng và số tiền 2.800.000 đồng. Tịch thu để tiều hủy: 01 áo phông cộc tay màu đen, 01 quần cộc màu đỏ mận, 01 ba lô bằng vải màu đen. Buộc bị cáo P phải bồi thường cho anh Cơ số tiền 5.000.000₫

Về án phí: Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu đợc của vụ án. Khoảng 03 giờ sáng ngày 30/10/2023, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, P đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh Nguyễn Văn C1 tại nhà anh C1 thuộc khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.Tổng giá trị P trộm cắp là 40.000.000 đồng, gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99, trị giá 16.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X trị giá 6.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max, trị giá 8.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s, trị giá 2.000.000 đồng; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ), trị giá 200.000 đồng và 7.800.000 đồng, với mục đích tư lợi cá nhân. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã thu hồi trả cho bị hại 01 mô tô, 03 chiếc điện thoại, 01 chiếc túi sách và 2.800.000 đồng còn 5.000.000 đồng chưa thu hồi được. Do đó có đủ cơ ở kết luận Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã P, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất vụ án: là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó vụ án cần phải đợc đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe nhưng không chăm chỉ lao động để có thu nhập chính đáng. Bị cáo có 01 tiền án và nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự giác đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự là tái phạm. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, H2 đồng xét xử đã cân nhắc thấy rằng cần cho bị cáo mức phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung : Khoản 5 điều 173 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

- Về trách nhiệm dân sự và sử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ) đều đã qua sử dụng và số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra, Công an thị xã P đã trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 cần xác nhận là hợp pháp.

Đối với số tiền 5.000.000đ chưa thu hồi được, anh C1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh C1 là phù hợp.

Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, loại cổ tròn, ở tay áo phía bên phải có hoạ tiết hình con cá màu đỏ và đen; 01 chiếc quần cộc màu đỏ mận, bên trên quần có nhiều hoạ tiết khác nhau; 01 chiếc ba lô bằng vải màu đen, trên balo có chữ “PLAY HARD” của Nguyễn Văn P, được tạm giữ tại kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã P. Đây là các tài sản cá nhân của P và không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu được trả lại, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí : Bị cáo P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo qui định.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 38; khoản 2 điều 47, Bộ luật hình sự; điểm c, khoản 2, điểm b, Khoản 3 điều 106, khoản 2 điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 điều 585, khoản 1 điều 586 Bộ luật dân sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23, khoản 1 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn P 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/2/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho anh Nguyễn Văn C1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19G1-219.99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone X; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone XS max; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 6s; 01 chiếc túi sách giả da màu nâu (dạng túi sách nữ) đều đã qua sử dụng và số tiền 2.800.000 đồng là hợp pháp.
  • - Tịch thu để tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng, loại cổ tròn; 01 chiếc quần cộc màu đỏ mận; 01 chiếc ba lô bằng vải màu đen, trên balo có chữ “PLAY HARD” (Tài sản trên hiện được tạm giữ tại kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã P) .
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn C1 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp, kể từ ngày anh C1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo còn phải trả cho bị hại tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về án phí : Buộc Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong án hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người bị hại, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKS thị, tỉnh
  • - Thi hành án
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an thị, tỉnh
  • - Lu hồ sơ, VP.
  • - UBND xã T
  • - Bị cáo, BH
  • - .

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Lệ T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HSST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger